MĨ HỌC TIẾP NHẬN Ở TRUNG QUỐC

         mĩ học tiếp nhận                          Đỗ Văn Hiểu*

Như chúng ta đã biết, trường phái Mĩ học tiếp nhận Konstanz Đức ra đời vào những năm 60 của thế kỉ 20 và đạt đến đỉnh cao vào những năm 70. Nó đã góp phần thúc đẩy nghiên cứu văn học thế giới chuyển trung tâm tnghiên cứu tác giả, văn bản sang nghiên cứu độc giả và sự tiếp nhận. Mĩ học tiếp nhận đến Trung Quốc đã tạo nên một phong trào nghiên cứu khá rầm rộ và để lại dấu ấn khá rõ nét trong lịch sử nghiên cứu văn học của quốc gia này. Bài viết hướng tới giới thiệu đặc điểm tiếp nhận, nghiên cứu, vận dụng Mĩ học tiếp nhận của giới nghiên cứu văn học Trung Quốc trong hơn 30 năm qua.

  1. 1. Dịch giới thiệu Mĩ học tiếp nhận một cách toàn diện

Trước thập niên 80, trong một thời gian tương đối dài, nghiên cứu văn học Trung Quốc chủ yếu tiếp nhận ảnh hưởng của lí thuyết văn học Xô Viết, mà chủ yếu là lí luận phê bình văn học Mác xít, trong khi đó nghiên cứu văn học thế giới đã chuyển sang phổ hệ hậu hiện đại. Đối diện với sự yếu kém của lí luận văn học trong nước, thập niên 80-90 Trung Quốc tập trung tinh lực phiên dịch lí luận văn học đương đại phương Tây với mong muốn nhanh chóng hiện đại hóa lí luận văn học nước nhà. Khi phiên dịch Mĩ học tiếp nhận, con đường mà họ lựa chọn là: trước hết dịch những bài giới thiệu về Mĩ học tiếp nhận và những văn bản lí thuyết riêng lẻ dễ được tiếp nhận nhất, coi nó như chiếc đũa thử thăm dò phản ứng của giới nghiên cứu. Cho nên, từ năm 1983 học giả Trung Quốc đã quan tâm đến Mĩ học tiếp nhận, nhưng trong vài năm tiếp theo chủ yếu chỉ tìm hiểu khái niệm cơ bản, bối cảnh lí luận và tập trung giới thiệu những bình luận của học giả phương Tây về trường phái lí thuyết này. Người sớm nhất giới thiệu Mĩ học tiếp nhận ở Trung Quốc là Phùng Hán Tân và Trương Lê, họ dịch giới thiệu hai bài viết của nhà nghiên cứu người Ý Meregalli Bàn về Tiếp nhận văn họcBút kí Mĩ học tiếp nhận (1983). Người đầu tiên dịch Mĩ học tiếp nhận ra tiếng Trung là Sầm Dật Thành người Hong Kong, ông dịch chương 6 cuốn Hoạt động đọc của Iser và công bố ở Đài Loan. Năm 1985 La Thê Luân dịch tóm tắt bài Khái luận nghiên cứu Mĩ học tiếp nhận của học giả Tây Đức Grimm, thông qua bài viết này, giới nghiên cứu Trung Quốc sơ bộ hiểu Mĩ học tiếp nhận là gì, bối cảnh ra đời của nó, thế nào là kinh nghiệm thẩm mĩ và các vấn đề tranh luận xung quanh Mĩ học tiếp nhận.

Sau thời kì thăm dò, học giả Trung Quốc phát hiện ra Mĩ học tiếp nhận là một lí thuyết có giá trị, có thể giải quyết rất nhiều vấn đề của nghiên cứu văn học trong nước, cho nên họ tiến hành dịch các văn bản biểu hiện bản chất trường phái này. Năm 1987, Vương Vệ Tân và Chương Châu Phong dịch hai bài viết có tính chất cương lĩnh của Mĩ học tiếp nhận: Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa văn học của Jauss và Kết cấu vẫy gọi của văn học: tính bất định như là điều kiện sản sinh hiệu quả của văn học của Iser – hai đại diện tiêu biểu nhất của Mĩ học tiếp nhận. Tiếp theo còn có những bài dịch khác như Độc giả ẩn tàng”(1988) do Chu Lập Nguyên dịch từ chương 11 của cuốn Độc giả tiềm ẩn. Những bản dịch lẻ này giúp giới nghiên cứu một lần nữa ý thức rõ hơn về giá trị của Mĩ học tiếp nhận. Dư luận và nhu cầu trong nước thúc đẩy giới nghiên cứu tiến tới dịch chuyên luận và tuyển tập. Kim Nguyên Phố và Chu Ninh cùng dịch cuốn Mĩ học tiếp nhận và lí thuyết tiếp nhận (1987) giới thiệu chuyên luận của Jauss và thành quả nghiên cứu Mĩ học tiếp nhận của Holub. Chính vì nhu cầu về Mĩ học tiếp nhận trong nước ngày một tăng, dẫn đến hình huống khá thú vị, đó là gần như đồng thời có 3 nhóm cùng dịch cuốn The act of reading: a theory of aesthetic response của Iser, năm 1988 xuất bản một cuốn, năm 1991 xuất bản hai cuốn. Aesthetic experience and literary hermeneutics của Jauss cũng có hai bản dịch. Một số học giả Trung Quốc cho rằng Mĩ học tiếp nhận Đông Đức là một nhánh của Mĩ học tiếp nhận, cho nên Phạm Đại Xán dịch Tác phẩm, văn học sử và độc giả của Nauman. Một loạt tuyển tập liên quan đến Mĩ học tiếp nhận đồng thời xuất hiện năm 1989, như Lí thuyết tiếp nhận do Trương Đình Thâm tuyển dịch, Tuyển dịch Mĩ học tiếp nhận của Lưu Tiểu Phong, Phê bình phản ứng của người đọc do Lưu Phong tuyển… Đến đây, về cơ bản trước tác kinh điển của Mĩ học tiếp nhận đã được dịch một cách tương đối toàn diện sang tiếng Trung, tạo tiền đề tốt cho việc nghiên cứu chung.

Khi đã dịch tương đối toàn diện lí luận cơ bản, để tiện hơn trong nghiên cứu và tiến hành đối thoại, học giả Trung Quốc bắt đầu tham khảo các cách nhìn của học giả phương Tây về Mĩ học tiếp nhận nhằm hạn chế đến mức tối đa xu hướng sùng bái hoặc phê phán một chiều. Ngũ Hiểu Minh dịch chương 2 cuốn Lí luận văn học phương tây thế kỉ 20 (1987) của học giả người Anh Terry Eagleton, Thang Vĩnh Khoan dịch Dẫn luận phê bình phản ứng người đọc (1987), Ngũ Hiểu Minh dịch Sự phát triển của lí thuyết tiếp nhận: giải phóng độc giả thực thụ của Elrud Ibsch (1988), Lưu Phong dịch Từ lịch sử phê bình nhìn nhận sự đối lập giữa phê bình phản ứng của người đọc và phê bình mới(1989), Phạm Đại Xán dịch Giản thuật Mĩ học tiếp nhận của Schober (1992). Các học giả Trung Quốc còn dịch những trước tác lí luận thời kì sau của hai vị đại diện tiêu biểu của Mĩ học tiếp nhận, như cuốn Hư cấu và tưởng tượng: cương giới của nhân loại học văn học của Iser (2003), cuốn Kinh nghiệm thẩm mĩ và giải thích học văn học của Jauss (2006). Có thể nói, đối diện với Mĩ học tiếp nhận ngoại lai, giới nghiên cứu Trung Quốc đã chọn được một sách lược dịch rất hợp lí, mang lại cơ sở vững chắc cho công việc nghiên cứu, đối thoại và vận dụng. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng giải thích vì sao nghiên cứu và vận dụng Mĩ học tiếp nhận ở Trung Quốc lại thành công như vậy.

  1. Trên cơ sở Mĩ học tiếp nhận xây dựng lí thuyết văn học sử mới

Giai đoạn 1950-1970, nghiên cứu văn học sử ở Trung Quốc chú trọng mục tiêu chính trị, coi nhẹ nghệ thuật và tính thẩm mĩ tự thân của văn học. Các bộ văn học sử thời kì này đều cùng một mô hình: bối cảnh lịch sử, tiểu sử nhà văn, nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật. Trong mô hình như vậy, nhà văn và tác phẩm chiếm vị trí trung tâm, có nghĩa là lịch sử văn học được tái hiện thông qua việc phác họa về nhà văn, tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học, nhân tố chủ quan của người biên soạn bị nhòe mờ. Trước sự đông cứng của khung biên soạn văn học sử, cuối những năm 80 của thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 ở Trung Quốc đã có nhiều cuộc thảo luận về lí thuyết văn học sử và vấn đề biên soạn lịch sử văn học. Cụ thể là chuyên mục Viết lại văn học sử trên tạp chí Văn luận Thượng Hải do Trần Tư Hòa và Vương Hiểu Minh phụ trách. đầu thế kỉ 21, Chương Bồi Hằng và Trần Tư Hòa lại một lần nữa phát động tranh luận về vấn đề phân kì văn học sử. Những tranh luận về viết lại văn học sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu lí thuyết văn học sử của Mĩ học tiếp nhận. Quan điểm văn học sử của Mĩ học tiếp nhận chủ yếu được thể hiện trong tư tưởng lịch sử tiếp nhận văn học của Jauss. Ông chủ trương xây dựng lịch sử tiếp nhận văn học dựa trên cơ sở sự tiếp nhận của độc giả.  Ông xem trọng tính lịch sử và tính thẩm mĩ của văn học, xem trọng độc giả và tính chủ thể của độc giả. Lúc đó, tư tưởng văn học sử của Mĩ học tiếp nhận có thể bổ sung cho những khuyết thiếu của mô hình cũ, hình thành lịch sử tiếp nhận văn học ở Trung Quốc.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tiếp nhận quan niệm mới về văn học sử trên tinh thần sáng tạo. Họ đã cố gắng điều chỉnh, bổ sung, giới định, cụ thể hóa lí thuyết ngoại lai để giúp cho nó có thể thích ứng thực tiễn văn học trong nước. Người góp công rất lớn trong việc này là Chu Lập Nguyên, Trần Văn Trung, Thượng Học Phong, Cao Trung Phủ… Chu Lập Nguyên cho rằng văn học sử theo quan điểm của Mĩ học tiếp nhận là sự tương hợp giữa hình thức thẩm mĩ và hình thức lịch sử, thể hiện kinh nghiệm thẩm mĩ của dân tộc. Từ đó, ông đề xuất quan điểm: văn học sử bao gồm lịch sử ảnh hưởng, lịch sử tác gia tác phẩm và lịch sử phê bình văn học. Theo ông, lịch sử tiếp nhận là cầu nối giữa lịch sử tác gia tác phẩm và lịch sử phê bình[1]. Quan niệm này đã bổ sung cho quan niệm văn học sử vĩ mô của Jauss và dung hòa được thuộc tính lịch sử và thuộc tính thẩm mĩ. Chu Lập Nguyên đặc biệt chú ý đến lịch sử  kinh nghiệm thẩm mĩ, ông cho rằng lịch sử kinh nghiệm thẩm mĩ là hạt nhân của lịch sử tiếp nhận. Khi bàn về lịch sử ảnh hưởng, ông đã tiến hành khảo sát nhà văn mang thân phận là người đọc, sự phê bình và bình luận cụ thể của nhà phê bình, của nhà văn đối với tác phẩm cụ thể, từ đó thu được những kết quả rất có giá trị. Trần Văn Trung đã kết hợp được tính đặc thù của lịch sử văn học cổ đại Trung Quốc với Mĩ học tiếp nhận phương tây để đề xuất phương pháp nghiên cứu lịch sử tiếp nhận riêng. Ông đặc biệt chú ý nghiên cứu loại độc giả đặc thù gồm nhà văn và nhà phê bình; chú ý khảo sát ảnh hưởng của tác phẩm kinh điển và tác gia lớn đối với đời sau[2]. Sùng cổ và sử dụng điển tích điển cố trong văn hóa cổ đại Trung Quốc là một hiện tượng hết sức phổ biến, cho nên dùng lí thuyết lịch sử hiệu quả để nghiên cứu sẽ phát hiện ra nhiều điều có lợi đối với nghiên cứu chỉnh thể lịch sử văn học cổ đại. Rõ ràng, Trần Văn Trung đã có những thay đổi và bổ sung cho tư tưởng lịch sử tiếp nhận của Jauss mà nổi bật nhất là ông đã cụ thể hóa loại hình độc giả. Tuy Jauss luôn sử dụng khái niệm độc giả mang nghĩa rộng bao gồm độc giả, nhà văn chịu ảnh hưởng của nhà văn tiền bối, nhà văn học sử, nhà phê bình, nhưng khi nghiên cứu sự thay đổi của tầm đón nhận ông lại bỏ qua việc dùng loại hình độc giả để nghiên cứu lịch sử tiếp nhận văn học. Trần Văn Trung đã phân người tiếp nhận thơ ca cổ đại Trung Quốc thành người tiếp nhận phổ thông, nhà phê bình thơ ca và nhà thơ. Thượng Học Phong, Vương Triệu Bằng đã chủ trương phân biệt nghiên cứu lịch sử tiếp nhận và nghiên cứu so sánh ảnh hưởng. Nghiên cứu ảnh hưởng của văn học so sánh chú trọng tác gia tác phẩm của thời đại trước đơn hướng ảnh hưởng đến tác gia thời đại sau hoặc tác gia văn học nước khác, còn nghiên cứu ảnh hưởng trong Mĩ học tiếp nhận lại chú ý đến quan hệ giao lưu hai chiều giữa tác phẩm và độc giả đời sau, có nghĩa là chú ý đến sự chủ động tham gia và tự do lựa chọn văn bản của người đọc[3]. Vương Triệu Bằng lại cho rằng nghiên cứu văn học sử nên nghiên cứu truyền bá và tiếp nhận. Như vậy, họ đã tiến thêm một bước trong việc cụ thể hóa nội hàm khái niệm lịch sử tiếp nhận của Jauss. Cao Trung Phủ đề xuất vấn đề điều kiện biên soạn lịch sử tiếp nhận tác gia tác phẩm nào đó, vì trên thực tế không phải bất kì tác gia tác phẩm nào cũng có thể nghiên cứu lịch sử tiếp nhận, chỉ có những tác gia tác phẩm kinh điển mới thực sự tồn tại lịch sử tiếp nhận. Vì thế, một tác giả tác phẩm nào đó muốn có vĩ độ lịch sử tiếp nhận thì tất yếu phải có sức sống mãnh liệt và lâu dài, độc giả phải luôn hứng thú với nó[4].

Lý thuyết văn học sử của Jauss thiếu hệ thống phương pháp có thể thao tác để biên soạn một bộ lịch sử văn học toàn diện. Vì thế, sau khi điều chỉnh bổ sung cho lí luận lịch sử tiếp nhận, giới nghiên cứu Trung Quốc đã tiến hành thao tác hóa lí thuyết. Họ đã lấy mô hình giao lưu giữa độc giả và văn bản làm căn cứ để thay đổi mô hình văn học sử, chú trọng quan hệ hai chiều giữa tầm đón nhận thẩm mĩ của người đọc và tiềm năng ý nghĩa của văn bản, phân biệt rõ ràng các phương hướng thay đổi, sau đó chế định các bước thực hiện. Theo quan điểm của Jauss, mỗi tác phẩm mới đều phải đáp ứng được một số nguyên tắc của tầm đón đợi thì mới được thời đại tiếp nhận. Nhưng kiệt tác thì lại thường phá vỡ, vượt qua loại hình quen thuộc trong tầm đón nhận vốn có – phá cũ lập mới. Giữa tác phẩm và tầm đón nhận của độc giả, giữa đối lập và thống nhất cần phải có khoảng cách hợp lí, tức là khoảng cách thẩm mĩ không nên quá lớn nếu không tác phẩm sẽ bị cự tuyệt, nhưng nếu khoảng cách thẩm mĩ quá nhỏ thì cũng sẽ trở thành quá phổ thông và cuối cùng sẽ bị đào thải; lí tưởng nhất là tác phẩm vừa thỏa mãn một số yêu cầu của tầm đón nhận của người đọc, vừa phá vỡ vừa làm mới một tầm đón nhận nào đó. Chu Lập Nguyên đã cụ thể hóa lí luận của Jauss thành mô hình: “Tác phẩm mới – phá vỡ tầm đón nhận cũ – người đọc xây dựng tầm đón nhận mới – tầm đón nhận phổ biến hóa, khi tiêu chuẩn thẩm mĩ mới được hình thành, nó lại chuyển thành tầm đón nhận cũ, tác phẩm mới cũng trở thành tác phẩm cũ – lại xuất hiện tác phẩm mới”[5]. Sự cụ thể hóa thành công thức này đã mang lại các bước nghiên cứu rõ ràng cho các nhà làm văn học sử, thuận tiện cho việc vận dụng vào các hiện tượng văn học cụ thể. Vương Vệ Bình nghiên cứu lịch sử tiếp nhận tám nhà văn văn học hiện đại Trung Quốc, phát hiện ra quan hệ giữa tiềm năng ý nghĩa của tác phẩm và tầm đón nhận của người đọc trong mỗi thời kì lịch sử. Vì ở mỗi giai đoạn lịch sử độc giả chịu ảnh hưởng của chủ lưu tinh thần xã hội khác nhau dẫn đến tầm đón nhận cũng khác nhau, khiến sự tiếp nhận bình giá của họ cũng thay đổi. Đồng thời, dẫn đến sự tiếp nhận với thái độ khác nhau cũng do tác phẩm vốn có ý nghĩa phong phú. Như vậy, nắm được quan hệ giữa văn bản và tầm đón đợi của người đọc có thể lí giải được diện mạo văn học sử[6].

Trong văn học cổ đại Trung Quốc tính kế thừa lại lớn hơn tính đột phá, vì thế nếu Jauss nhấn mạnh sự đối lập giữa tác phẩm mới và tầm đón nhận cũ của người đọc thì học giả Trung Quốc lại thiên về tính thống nhất, họ ra sức thúc đẩy nghiên cứu ảnh hưởng. Mặc dù Jauss không đặt vấn đề nhà văn đồng thời cũng là độc giả vào vị trí nổi bật trong hệ thống lí thuyết của mình, nhưng khi Mĩ học tiếp nhận vào Trung Quốc thì vấn đề này lại chiếm vị trí hạt nhân. Thời cổ đại, hiện tượng người đọc lí tưởng đồng thời là nhà văn rất phổ biến. Lưu Hồng Bân phát hiện ra sáng tác của Tào Tuyết Cần, Thi Nại Am, La Quán Trung, Ngô Thừa Ân… có chịu ảnh hưởng của mô hình chân –giả trong xây dựng nhân vật của các nhà văn tiền bối. Học giả Trung Quốc cũng ý thức được quan hệ giữa tác phẩm đời trước và độc giả đời sau không chỉ là đơn hướng. Sự tiếp nhận, đánh giá cao hoặc thái độ lạnh nhạt của người đọc cũng sẽ ảnh hưởng đến vị trí của tác phẩm và nhà văn thời đại trước. Nhà văn vừa là người sáng tác vừa là người tiếp nhận, sự song trùng thân phận này ảnh hưởng lớn đến toàn bộ lịch sử tiếp nhận văn học. Vì hiện tượng dụng điển, mô phỏng cổ nhân là rất phổ biến trong văn học cổ đại Trung Quốc, cho nên nghiên cứu sự tiếp nhận của nhà văn với tư cách là một loại độc giả đặc thù trở thành nét đặc sắc trong nghiên cứu văn học sử Trung Quốc.

Học giả Trung Quốc cũng chú ý vận dụng lí thuyết đồng đại và lịch đại của Jauss để khắc phục sự phân tích độc lập, tĩnh tại đối với tác phẩm nhà văn. Đối với nghiên cứu văn học sử, phương pháp này rất quan trọng, vì nếu chỉ khảo sát đồng đại thì chỉ có thể phát hiện ra diện mạo cố định của văn học. Trong khi đó, mỗi giai đoạn, trong mỗi tình huống đọc đặc thù, mỗi khi tâm lí xuất hiện động thái mới, tác phẩm văn học đều có diện mạo mới. Tìm được công cụ để giải quyết vấn đề này mới có thể khiến văn học sử khai phá giai đoạn mới. Xuất phát từ góc độ này, Vương Vệ Bình, Trần Phúc thăng, Cao Nhật Huy, Hồng Ứng đã thu được thành tựu rất lớn.

Như vậy, bên cạnh việc giới định, điều chỉnh, bổ sung, giới nghiên cứu Trung Quốc đã tìm cách thao tác hóa lí thuyết văn học sử của Jauss, họ cho rằng ngay lập tức biên soạn một bộ lịch sử văn học mang tính chỉnh thể toàn diện là điều không thể, cho nên trước tiên nên biên soạn lịch sử tiếp nhận những tác gia tác phẩm kinh điển; tiếp theo sẽ biên soạn lịch sử tiếp nhận thể loại; cuối cùng mới có thể biên soạn được một bộ lịch sử tiếp nhận văn học mang tính chỉnh thể và toàn diện. Sách lược này đã mang lại những thành công nhất định, biểu hiện cụ thể là đã có không ít công trình về lịch sử tiếp nhận những tác phẩm kinh điển ra đời, như Lịch sử tiếp nhận Hồng Lâu Mộng, Lịch sử tiếp nhận Thủy Hử…; cũng có không ít sách về lịch sử tiếp nhận thơ ca của tác gia kinh điển, như Lịch sử tiếp nhận thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha…; lịch sử tiếp nhận một thể loại, như Lịch sử tiếp nhận thơ Đường, Lịch sử tiếp nhận từ Tống…; hơn nữa, giới nghiên cứu còn biên soạn lịch sử tiếp nhận văn học cổ đại, văn học hiện đại. Có thể nói, đây là những thành tựu cụ thể nhất trong nghiên cứu vận dụng Mĩ học tiếp nhận của giới nghiên cứu Trung Quốc.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc không hoàn toàn sùng bái, ca ngợi một chiều, họ đã chỉ ra những hạn chế của Mĩ học tiếp nhận: Mĩ học tiếp nhận đã coi nhẹ tính chủ thể của nhà văn, che lấp giá trị và ý nghĩa của sáng tác[7]; tầm đón nhận và mô hình lịch sử tiếp nhận quá ỷ lại vào kinh nghiệm thẩm mĩ của tác giả mà coi nhẹ tính khách quan của ý nghĩa và tiêu chuẩn giá trị thẩm mĩ của văn học[8]; Sự lí giải của Jauss về độc giả thiên sang vĩ mô và thiếu ý thức về cơ sở xã hội của người đọc[9]. Quá nhấn mạnh tính đối lập giữa tầm đón nhận của người đọc, mở rộng ý nghĩa phủ định hiện thực[10]. Chính vì phát hiện ra hạn chế trong lí luận của Jauss cho nên học giả Trung Quốc trong quá trình vận dụng đã phân biệt, bổ sung, cải tạo làm cho nó thích hợp với thực tiễn phát triển của văn học. Như vậy có thể thấy, Mĩ học tiếp nhận đến Trung Quốc không phải mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới, mà nhiều hơn là mang đến cho giới nghiên cứu Trung Quốc phương pháp luận có tính khai mở.

  1. Xây dựng lí luận tiếp nhận văn học mang màu sắc Trung Quốc

            Nửa sau thế kỉ 20, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc phát hiện hiện tượng “thất ngữ”, “tây hóa toàn bộ” trong lí luận văn học Trung Quốc. Họ nhận ra rằng muốn xây dựng nền lí luận văn học mang màu sắc Trung Quốc và có thể đối thoại được với phương Tây thì cần phải kết  hợp lí thuyết ngoại lai với việc chỉnh lí, diễn giải mới về lí luận truyền thống, xây dựng diễn ngôn riêng. Đối với Mĩ học tiếp nhận, họ chủ trương vận dụng lí thuyết này nhìn lại toàn bộ hệ thống lí luận tiếp nhận truyền thống, xây dựng hệ thống lí luận vừa truyền thống vừa hiện đại mang màu sắc Trung Quốc.

Từ góc độ Mĩ học tiếp nhận giới nghiên cứu Trung Quốc tiến hành giải thích lại một số phạm trù thi học cổ điển như ý cảnh, thi ngôn chí, dĩ ý nghịch chí, thi vô đạt hỗ, phát hiện ra ý nghĩa lí luận tiếp nhận trong đó. Đồng thời tiến hành khám phá lí luận tiếp nhận của Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, của Chung Vinh trong Thi phẩm, giải thích các phạm trù thi học có ý nghĩa tiếp nhận của Vương Phu Chi và phép bình điểm của Kim Thánh Thán. Khảo sát các phạm trù lí luận từ thời tiên Tần đến Minh Thanh, họ thấy rằng người xưa đã ý thức ngày càng sâu sắc và tự giác hơn trong lí luận thưởng thức, tiếp nhận văn học. Từ đó,  học giả Trung Quốc chỉ ra những đặc trưng cơ bản của lí luận tiếp nhận văn học Trung Quốc.

Từ góc độ văn bản, có thể thấy ý thức tiếp nhận của người Trung Quốc xưa không tập trung thành những chuyên luận mà tản mạn ở các văn bản như thi thoại, từ thoại, văn thoại, khúc thoại, tuyển bản, bình điểm, tập chú… Người Trung Quốc thích “chạm đến là dừng”, thích lời ít ý nhiều chứ không thích trường thiên đại luận. Trong những văn bản tiếp nhận này ẩn tàng kinh nghiệm thẩm mĩ của người tiếp nhận trong các thời đại khác nhau. Trần Văn Trung chú ý đến bình luận thơ, tuyển tập thơ, đặc biệt là những tuyển tập thơ các thời đại khác nhau[11]. Bình điểm là phương thức độc giả thể hiện ý thức tiếp nhận, trong quá trình đọc này, ba nhân tố nhà văn, bình điểm, độc giả có ảnh hưởng lẫn nhau. Đây chính là hiện tượng đặc thù trong tiếp nhận tiểu thuyết ở Trung Quốc cổ đại[12].

Từ đặc trưng phương pháp tư duy tiếp nhận, các nhà nghiên cứu thấy rằng người xưa nhấn mạnh trực giác và cảm ngộ khi nắm bắt đối tượng. Họ đặc biệt chú trọng phát triển lí thuyết “vị”. “Vị” trong phương pháp thưởng thức phê bình cổ đại thể hiện rõ tư duy biện chứng coi văn bản và người đọc là một chỉnh thể. Loại diễn ngôn này gọi là “phê bình điểm ngộ” hoặc là “thần ngộ trực quan” hoặc là “phê bình ý tượng”[13]. Trung Quốc có lí luận đọc của mình đó là thuyết xuất ­- nhập. Trên thực tế đó là sự kết hợp giữa coi trọng thưởng thức văn học thể nghiệm bên trong (nhập) và phê bình văn học phản ánh bên ngoài (xuất), cũng có thể đã thực hiện sự thống nhất giữa tiếp nhận văn học và kinh nghiệm sống của người đọc[14]. Phong cách tiếp nhận cũng rất đặc biệt, khi tiếp nhận văn bản, cá nhân có thể tùy ý thay đổi nguyên tác, đồng thời tiếp nhận thiếu tính logic, thiếu tính hệ thống. Khi tiếp nhận, người Trung Quốc cổ đại coi trọng tính thể nghiệm và tính thưởng thức. Người tiếp nhận vừa là nhà văn ưu tú và là độc giả ưu tú, cho nên họ thường dùng kinh nghiệm sáng tác phong phú để tiến hành bình điểm, và dựa vào kinh nghiệm phê bình để thúc đẩy năng lực sáng tác. Cứ thế tạo thành hiện tượng đặc thù thẩm thấu lẫn nhau giữa sáng tác và tiếp nhận trong lịch sử.

Từ góc độ chuẩn giá trị, người  Trung Quốc cổ đại coi phẩm chất của tác phẩm có liên quan đến phẩm chất của người sáng tác, thể hiện khuynh hướng luân lí đạo đức trong phê bình văn học. Lý Kiếm Phong phát hiện ra người xưa thường phá vỡ ranh giới giữa tác giả và tác phẩm, đồng hóa tác phẩm và nhân phẩm. Khuynh hướng này có lúc dẫn tới trong phê bình văn học coi trọng thước đo luân lí đạo đức, coi nhẹ tiêu chuẩn thẩm mĩ, thậm chí hình thành mô hình phê bình “dùng luân lí đạo đức bình luận thơ ca”[15].

Trong tiếp nhận văn học truyền thống Trung Quốc, hành vi dụng điển và phỏng tác rất phổ biến. Vấn đề này có tính hai mặt, một mặt nó làm cho ảnh hưởng của người trước  rộng hơn, mặt khác, người đời sau thông qua mô phỏng người trước có thể trực tiếp mượn tư tưởng nghệ thuật và bút pháp nghệ thuật, dần dần hình thành phong cách sáng tác của riêng mình. Ngoài ra, vì chịu ảnh hưởng quan niệm sử kí, có nhiều người lấy sử bình thơ, coi bình luận thơ ca trở thành bình luận lịch sử, thoát li hạt nhân thẩm mĩ của văn học. Vương Mai cho rằng quan niệm này khiến người đọc khi tiếp nhận tác phẩm văn học thường liên kết giữa nội dung tác phẩm với sự thực các thời đại khác nhau và trải nghiệm của nhà văn, dùng sự thực lịch sử làm tiêu chí phân biệt chân giả, tìm kiếm dấu tích của sự kiện lịch sử trong tác phẩm văn học[16].

Từ góc độ chủ thể tiếp nhận, giới nghiên cứu Trung Quốc phát hiện ra người xưa coi trọng thông qua tu dưỡng bản thân mở rộng tầm đón đợi thẩm mĩ. Tu dưỡng tâm thái, tu dưỡng nghệ thuật và kinh nghiệm đọc tạo thành điều kiện chủ thể của độc giả. Người xưa nhấn mạnh chủ thể tiếp nhận phải có tâm thái hư tĩnh, thái độ thẩm mĩ bình lặng ngưng thần. Từ năng lực phán đoán thẩm mĩ của Kant đến khoảng cách tâm lí của Edward Bullongh, rồi đến tầm đón đợi của Jauss và người đọc tiềm ẩn của Iser, lí luận phương tây đều chủ trương chủ thể tiếp nhận dùng thái độ thẩm mĩ phi công lợi để đối xử với văn bản, nhưng lí luận phương tây không nghiên cứu làm thế nào để bồi dưỡng thái độ thẩm mĩ. Sở Bảo Anh cho rằng Trung Quốc cổ đại có không ít thành tựu trong nghiên cứu về tâm thái hư tĩnh, đặc biệt là đạo giáo[17].

Các học giả Trung Quốc cũng truy tìm nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa lí luận tiếp nhận Trung Quốc và phương tây từ trong cội nguồn văn hóa, tâm lí truyền thống, tư tưởng triết học và quan niệm giá trị. Hoạt động tiếp nhận lí tưởng và phương thức nghiên cứu lí tưởng của Mĩ học tiếp nhận là lấy phân tích lí tính làm chủ, còn phương thức tiếp nhận lí tưởng của Trung Quốc cổ đại lại là cảm tính tổng hợp. Trung Quốc cổ đại coi tiếp nhận văn học là cảm ngộ trực quan và thể nghiệm chỉnh thể. Mĩ học tiếp nhận dùng ngữ thể phê bình tiếp nhận được lí luận hóa, Trung Quốc cổ đại lại dùng ngữ thể phê bình văn học hóa. Điều này có nguồn gốc từ quan niệm “thiên nhân tương phân” của phương Tây và quan niệm “thiên nhân hợp nhất” của Trung Quốc. Phương tây thường coi văn học là đối tượng của phân tích lí tính, chú ý đến tư duy logic biện chứng, vì thế, trên phương diện chỉnh thể, lí luận phương tây dùng tri thức luận làm cơ sở,  thường mang khuynh hướng chủ nghĩa khoa học, còn Trung Quốc lại thường coi văn học là sự giao lưu với một chủ thể khác, đồng thời coi hoạt động tiếp nhận là hoạt động của người và người, người và tự nhiên hợp nhất. Vì thế, người Trung Quốc cổ đại thường lấy nhân sinh luận làm cơ sở, mang đậm tinh thần nhân văn. Tinh thần truyền thống của phương Tây lại thiên sang lí tính, còn phương Đông lại dùng “đạo” để biểu hiện trí tuệ triết học và ngộ tính triết học.

Kết luận

Trong lịch trình hơn 30 năm ở Trung Quốc, Mĩ học tiếp nhận đã có một diện mạo riêng. Giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã có sách lược hợp lí trong việc tiếp nhận lí thuyết này. Họ không chỉ dịch giới thiệu một cách toàn diện, mà còn tiếp nhận trên tinh thần sáng tạo, tinh thần phê phán, tiến hành điều chỉnh, bổ sung, giới định và thao tác hóa lí thuyết, tạo tiền đề cho việc ứng dụng vào thực tiễn văn học trong nước, mà cụ thể là ứng dụng nghiên cứu và biên soạn văn học sử, nghiên cứu lí luận tiếp nhận truyền thống và ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu các hiện tượng văn hóa văn học nghệ thuật. /.

                                                                                                         Busan, 18-10-2015

(Bài đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 2 năm 2016)

Chú thích

* Tiến sĩ Văn học, Giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội

[1] Chu Lập Nguyên , Mĩ học tiếp nhận, nxb Nhân dân Thượng Hải, 1989, tr 361

[2] Trần Văn Trung, Nghiên cứu lịch sử tiếp nhận thơ ca cổ điển Trung Quốc, Nxb Đại học An Huy, 1998, tr 9-29)

[3] Thượng Học Phong…, Lịch sử tiếp nhận văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục Sơn Đông, 2000, tr2

[4] Cao Trung Phủ, Lịch sử tiếp nhận Gơt, (1773一1945), Nxb Văn hiến khoa học xã hội, 1993, tr1

[5] Chu Lập Nguyên, sđd, tr345

[6] Vương Vệ Bình, Mĩ học tiếp nhận và văn học hiện đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục Cát lâm, 1994, tr88-118

[7] Ôn Phan Á, Quan sát lịch sử hiệu quả trong sự dung hợp tầm đón đợi, Tạp chí Hà Bắc, số 4, năm 2006, tr126

[8] Khấu Bằng Trình, Bàn về hạn chế căn bản của Mĩ học tiếp nhận, Tạp chí khoa học trường Đại học Thâm Quyến, số 3 năm 1999

[9] Ôn Phan Á, sđd, tr 126

[10] Vương Lệ Lệ, Văn học sử: một vấn đề chưa hoàn thành – nhìn lại triết học văn học sử của Jauss, Tạp chí khoa học Đại học Bắc Kinh, số 1 năm 1994, tr62

[11] Trần Văn Trung, sđd

[12] Cao Nhật Huy, Hồng Ứng, Lịch sử tiếp nhận Thủy Hử, Nxb Tề Lỗ, 2006, tr12

[13] Trần Văn Trung, sđd, tr 42-43

[14] Long Hiệp Đào, Nghiên cứu về đọc văn học, Nxb Đại học Bắc Kinh, 2004 tr300-308

[15] Vương Mai, Lịch sử tiếp nhận văn học Kiến An, Nxb Đại học Sư phạm Phúc Kiến, 2002

[16] Vương Mai, sđd.

[17]Sở Bảo Anh, Sáng tác và tiếp nhận văn học cổ đại Trung Quốc, Nxb Đại học Dầu khí, 1997, tr 281-295

 

 

Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển (1)

phê bình sinh tháiPhê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ 20, tiếp đó xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Trong số rất nhiều giới định về thuật ngữ “phê bình sinh thái”, định nghĩa được nhiều người tiếp nhận là định nghĩa của một trong những người chủ chốt trong việc khởi xướng và phát triển phê bình sinh thái Mĩ – Cheryll Glotfelty: “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên”(1)
I
Từ nghĩa mặt chữ có thể thấy Phê bình sinh thái dường như là đem sinh thái học và văn học nghệ thuật kết hợp lại, giống như kết hợp giữa phê bình phân tâm học và phê bình mẫu gốc thần thoại. Kì thực không phải như vậy. Tuy có nhà phê bình đã dẫn dụng một số thành quả nghiên cứu sinh thái học, căn cứ số học của nghiên cứu môi trường học, nhưng trên chỉnh thể, cái mà phê bình sinh thái hấp thu không phải là thành quả nghiên cứu cụ thể của khoa học tự nhiên mà là tư tưởng cơ bản của sinh thái học, hoặc nói chính xác hơn là tư tưởng triết học sinh thái. Triết học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của phê bình sinh thái. Karl Kroeber đã luận thật rõ ràng về điểm này. Ông nói: “Phê bình sinh thái không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học. Nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi”(2)
Đem phê bình sinh thái định nghĩa thành nghiên cứu văn học, thậm chí thành phê bình toàn bộ quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên, đã làm lộ ra đặc trưng cơ bản nhất của loại phê bình này. Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phê bình sinh thái có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc thù và đặc trưng bản thể luận của nó, đó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, đã dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái như thế nào. Jonathan Levin đã chỉ ra: “Tất cả phương diện văn hóa xã hội của chúng ta cùng quyết định phương thức độc nhất vô nhị của sinh tồn của chúng ta trên thế giới này. Không nghiên cứu những điều này, chúng ta không thể nhận thức sâu sắc quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, mà chỉ có thể biểu đạt những lo lắng nông cạn…Vì thế, ngoài nghiên cứu văn học biểu hiện tự nhiên như thế nào, chúng ta tất yếu còn phải dùng rất nhiều tinh lực để phân tích tất cả các nhân tố văn hóa xã hội quyết định thái độ đối đãi của con người đối với tự nhiên và hành vi tồn tại trong môi trường tự nhiên, đồng thời kết hợp những phân tích này với nghiên cứu văn học”. Phê bình sinh thái phải “làm lộ ra một cách có tính lịch sử văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến sinh thái địa cầu”(3). Nhà nghiên cứu tư tưởng sinh thái nổi tiếng Donald Worster chỉ ra: “ Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa của chúng ta. Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên. Nhà sử học, nhà phê bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học  nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa”(4)
Phê bình sinh thái manh nha vào những năm 70 của thế kỉ 20. Năm 1974, học giả người Mĩ Joseph W. Meeker cho xuất bản chuyên luận Sinh thái học của văn học đề xuất thuật ngữ “sinh thái học văn học” (literary ecology), chủ trương phê bình nên bàn đến “quan hệ giữa nhân loại và các vật chủng khác, phải “phải nhìn nhận và khám phá một cách tỉ mỉ chân thành ảnh hưởng của văn học đối với hành vi nhân loại và môi trường tự nhiên”(5). Tác giả còn thử phê bình kịch Hi La cổ đại, Date, Shakespeare và một số tác phẩm văn học đương đại. Cũng năm đó, một học giả người Mĩ khác Karl Kroeber đã viết một bài trên tạp chí có ảnh hưởng rất lớn trong giới phê bình phương Tây – Tạp chí của hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, dẫn nhập khái niệm “sinh thái học”(ecology) và “tính sinh thái”(ecological) vào phê bình văn học(6).
Năm 1978, William Rueckert trên tạp chí Bình luận Iowa số mùa đông, đã đăng một bài viết với tiêu đề Văn học và sinh t hái học:Một phác thảo thử nghiệm phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái”(ecocriticism), đề xướng một cách rõ ràng “kết hợp hợp văn học và sinh thái học”, nhấn mạnh rằng nhà phê bình “phải có cái nhìn sinh thái học”, cho rằng nhà lí luận văn nghệ nên “xây dựng được một hệ thống thi học sinh thái”(7)
Năm 1985, Hội ngôn ngữ học hiện đại cho xuất bản một cuốn sách do Frederick O. Waage chủ biên mang tên Dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và Tiềm năng phát triển (Teaching Environmental Literature: Materials, methods, Resources). Cuốn sách này phát huy tác dụng lớn trong việc kích thích các giáo sư ở Mĩ mở các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này.
Năm 1989 trong Đại hội “Hội văn học miền Tây” nước Mĩ, có hai vị học giả đề xướng phê bình sinh thái. Một vị là Cheryll Glotfelty với báo cáo Vì một nền phê bình văn học sinh thái (Toward an Ecological literary criticism); một vị khác là Lough hội trưởng của hội này, báo cáo của ông có tiêu đề Định giá lại tự nhiên: Vì một nền phê bình sinh thái học) (Revaluing Nature: Toward an ecological criticism)
Năm 1990 Robert Finch và John Elder chủ biên cuốn The Norton: Cuốn sách viết về tự nhiên (The Norton: book of nature writing). Bộ sách này có dung lượng gần 1000 trang giới thiệu những tác phẩm quan trọng viết về tự nhiên của Âu Mĩ từ thế kỉ 18, cung cấp một số lượng lớn bài viết, trong đó phần lớn là văn học sinh thái.
Năm 1991 giáo sư Jonathan Bate Đại học Liverpool nước Anh cho xuất bản chuyên luận Sinh thái học của chủ nghĩa lãng mạnWordsworth và truyền thống môi trường, nghiên cứu văn học lãng mạn từ góc độ sinh thái học. Trong cuốn sách này, Bate cũng sử dụng thuật ngữ phê bình sinh thái, ông gọi nó là “phê bình sinh thái của văn học” (literary ecocriticism)(8). Có học giả cho rằng, sự xuất hiện của chuyên luận này đánh dấu bước mở đầu của phê bình sinh thái Anh (9). Cuốn sách có tính nền tảng cho phê bình văn sinh thái ở Anh này đã “trở thành kinh điển”(10). Cũng năm đó, Hội Ngôn ngữ học hiện đại tiến hành hội thảo khoa học với chủ đề “Phê bình sinh thái: xanh hóa nghiên cứu văn học”.
Năm 1992, “Hội nghiên cứu văn học và môi trường” (The Association for the Study of literature and Environment), gọi tắt là ASLE được thành lập ở trường đại học Nevada Mĩ. ASLE là một tổ chức học thuật phê bình sinh thái mang tính quốc tế, có hơn nghìn hội viên đến từ các nước khác nhau, hai năm tổ chức hội thảo thường niên một lần. Ngoài ra, ASLE còn thường  tổ chức các cuộc thảo luận quy mô nhỏ, xuất bản tạp san của hội, giới thiệu những thành quả phê bình sinh thái mới nhất, gửi đi “Danh sách những vấn đề thảo luận học thuật” (The ASLE disccussion list). Scott Slovic được bầu là hội trưởng đầu tiên của ASLE là hoàn toàn có lí do. Năm 1989 ông đã bắt đầu nghiên cứu phê bình sinh thái, năm 1992 ông cho xuất bản chuyên luận Đi tìm nền nhận thức toàn triển cho lối viết  tự nhiên ở Mỹ (Seeking Awareness on America Nature writing), có ảnh hưởng rất lớn ở Mĩ. Trong cuốn sách này ông nghiên cứu các nhà văn sinh thái nổi tiếng như Annie, Edward, Abbey, Wedell Bery, Bary Lopez. Ông quan tâm đến sách viết về tự nhiên và nguyên nhân tâm lí của văn học sinh thái, quan tâm đến cơ chế bên trong của giao lưu giữa con người và tự nhiên.
Mùa xuân năm 1993, Tạp chí phê bình sinh thái của ASLE đầu tiên được xuất bản phát hành mang tênNghiên cứu liên ngành văn học và môi trường (Interdisciplinary studies in literature and environment, gọi tắt là ISLE). Tạp chí này sau đó trở thành tạp chí học thuật có tính hạt nhân trong lĩnh vực phê bình sinh thái, mỗi số đều có dung lượng hàng trăm trang.
Năm 1994, Kroeber cho xuất bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần(Ecological literary criticism; romantic imagining and the Biology of mind), đề xướng “phê bình văn học sinh thái”(ecological literary criticism) hoặc “Phê bình mang khuynh hướng sinh thái”(ecological oriented criticism), và tiến hành bàn luận những vấn đề chủ yếu của phê bình sinh thái như đặc trưng, nguyên nhân ra đời, tiêu chuẩn phê bình, mục đích, sứ mệnh…(11). Tuy nhiên trong thời kì này, phần lớn giới phê bình văn học vẫn chưa biết phê bình sinh thái rốt cuộc là cái gì. Vì thế, năm 1994, trong Hội văn học miền Tây, Blanche và Sean O Grady đã tổ chức hội nghị bàn tròn mời khoảng 20 học giả đến để giới thuyết khái niệm “phê bình sinh thái”.
Tháng 6 năm 1995, ASLE lần đầu tiên tổ chức hội thảo khoa học tại trường đại học Colorado, hội nghị nhận được hơn 200 báo cáo. Mọi người thường coi đại hội lần này của ASLE là tiêu chí đánh dấu sự hình thành của khuynh hướng hoặc trào lưu phê bình sinh thái. Cùng năm, giáo sư Buell khoa Anh văn đại học Harvard cho xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, văn viết về tự nhiên và sự cấu thành của văn hóa Mĩ. Ông dùng thước đo sinh thái để nhìn nhận lại văn học và văn hóa Mĩ, viết ra một chuyên luận được vinh danh là “tấm biển đánh dấu mốc của phê bình sinh thái”(12). Ông là chuyên gia về Thoreau, “ông bắt đầu từ tiến trình nghiên cứu Thoreau và từ cống hiến của Thoreau để nghiên cứu , từ góc độ sinh thái cung cấp cho “văn học xanh” một số chỉ đạo có tính tổng thể về phương pháp luận và lí luận”(13).
Năm 1996, tuyển tập Văn bản phê bình sinh thái do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên được xuất bản. Cuốn sách này được công nhận là tài liệu nhập môn của phê bình sinh thái.  Cuốn sách chia làm ba phần, phân biệt thảo luận sinh thái học và lí luận văn học sinh thái, phê bình sinh thái của văn học và phê bình của văn học sinh thái. Cuối sách còn liệt kê và giới thiệu sơ lược tính đến cuối năm 1995 những bài báo và chuyên luận phê bình sinh thái quan trọng nhất. Nữ sĩ Cheryll Glotfelty là học giả đầu tiên nhận được danh hiệu “giáo sư văn học và môi trường” (professor of literature and environment). Vị giáo sư trường đại học Nevada này có 20 năm theo đuổi phê bình sinh thái, là một trong những người khởi xướng “Hội nghiên cứu văn học và môi trường”, đồng thời là hội trưởng, cũng là một trong những thành viên sáng lập ra “Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường”. Cùng năm, tài liệu tham khảo về phê bình sinh thái chủ yếu khác cũng xuất hiện như Những bài viết về tự nhiên của Mĩ, chủ biên chính là John Elder – chủ biên của cuốn Tuyển tập các bài viết về tự nhiên Norton.
Năm 1998, tại Luân Đôn, tuyển tập Viết về môi trường: phê bình sinh thái và văn học do nhà phê bình người Anh R. Kerridge và N. Sammells chủ biên được xuất bản.  Đây là bộ tuyển tập phê bình sinh thái đầu tiên ở Anh. Sách được chia thành ba phần: lí luận phê bình sinh thái, lịch sử phê bình sinh thái và văn học sinh thái đương đại, tổng cộng 15 chương, tác giả là những nhà phê bình sinh thái Âu Mĩ. Trong lời mở đầu cuốn sách R. Kerridge viết: Phê bình sinh thái là “một môn phê bình văn hóa chủ nghĩa môi trường mới”. “Phê bình sinh thái cần bàn luận về biểu hiện của môi trường và quan niệm môi trường trong văn học”(14). Cùng năm,  tập báo cáo của hội nghị thường niên lần thứ nhất của  ASLE cũng được chính thức xuất bản với tên Đọc về trái đất: khuynh hướng mới của nghiên cứu văn học và môi trường.
Nhà phê bình người Mĩ William Slaymaker từng thốt lên trước sự phát triển nhanh như vậy của nghiên cứu văn học sinh thái: “Từ những năm 80, 90, văn học môi trường và phê bình sinh thái dần dần trở thành hiện tượng văn học mang tính toàn cầu. Hai từ mới “Văn sinh thái”(ecolit) và “phê sinh thái”(ecocrit) xuất hiện với số lượng nhiều trong  tạp chí, sách vở xuất bản, hội thảo khoa học, hạng mục học thuật và vô số chuyên đề nghiên cứu, luận văn, và lan nhanh như nước lũ”(15). Murphy – nhà phê bình danh tiếng, giáo sư đại học Indiana, cho rằng: quốc tế hóa, toàn cầu hóa là đặc điểm nổi bật của sự phát triển những năm gần đây của phê bình sinh thái. Murphy còn cho rằng: “Tất nhiên không nhất thiết mỗi người đều trở thành nhà phê bình sinh thái, nhưng trong tất cả các khoa mà hội viên Hội ngôn ngữ học hiện đại giữ chức vụ, đều nên đem phê bình sinh thái vào việc mở môn học, cho dù chỉ là để thỏa mãn hứng thú và nhu cầu của sinh viên và nghiên cứu sinh cũng cần phải làm” (16). Tình hình thực tế đúng là như vậy. 10 năm gần đây, trong đại học ở Mĩ, các môn học có liên quan đến văn học sinh thái hoặc văn học và môi trường đều tăng lên mạnh mẽ. Ví dụ, chuyên luận phê bình sinh thái của Lawrence Buell được dẫn dụng rộng rãi trong giới học thuật, chính là cuốn sách được viết ra trên cơ sở những bài giảng của ông về “văn học mĩ và môi trường Mĩ” tại đại học Harvard. Tại khoa Anh văn đại học Yale, từ sinh viên năm thứ nhất đến nghiên cứu sinh, đều có những môn học liên quan đến văn học sinh thái để sinh viên tham gia tiến tu. Giáo sư Peterson tiền chủ nhiệm của khoa này từng nói: “Hứng thú của sinh viên đối với văn học sinh thái ngày càng sâu sắc, rất nhiều nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án liên quan đến lĩnh vực văn học và tự nhiên – phê bình sinh thái”(17). Đại học Naveda là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu văn học sinh thái của toàn nước Mĩ. Ở đây, tập hợp nhiều giáo sư, thực tập sinh và nghiên  cứu sinh chuyên nghiên cứu văn học sinh thái. “Hạng mục bồi dưỡng nghiên cứu sinh văn học và môi trường” mỗi năm tuyển khoảng 2-30 thạc sĩ và nghiên cứu sinh. Đại học Virginia, đai học Arizona, đại học Georgia, đại học Oregen, đại học Utah, và đại học Wisconsin đều là cơ sở quan trọng của phê bình sinh thái.
Tân văn học sử (new literary history) mùa hè năm 1999 là chuyên đề phê bình sinh thái, tổng cộng in 10 bài chuyên luận về phê bình sinh thái, dùng đến 210 trang, trong đó, với bài Khởi nghĩa của sinh thái Buell ví sự trỗi dậy của phê bình sinh thái như sự khởi nghĩa đầy thanh thế của các nhà phê bình đối với văn hóa truyền thống trong thời đại nguy cơ sinh thái. Tháng 10 cùng năm, tạp chí có quyền uy hơn là Tạp chí của hội ngôn ngữ học hiện đại cũng mở một diễn đàn đặc biệt, sưu tập các bài viết của hơn 10 học giả hàng đầu, chuyên thảo luận về phê bình sinh thái. Trong số 1 của tạp chí đã in 14 bài của các chuyên gia có uy tín (bao gồm Buell, Murphy và Glotfelty).
Năm 2000 cũng là năm phát triển mạnh của phê bình sinh thái, xuất hiện những chuyên luận và hàng loạt các tuyển tập quan trọng. Tháng 6 năm 2000 tại đại học Cork tiến hành hội thảo khoa học quốc tế đa ngành với chủ đề “Giá trị của môi trường”. Tháng 10 năm đó, tại đại học Danjiang Đài Loan đã tổ chức hội thảo quốc tế phê bình sinh thái với chủ đề “Diễn ngôn sinh thái”. Trong hội nghị, giáo sư Gifford đại học Leeds nước Anh đã kêu gọi học giả các nước: “Đem phê bình sinh thái vào trong giảng đường đại học”.
Năm 2000, trong những chuyên luận phê bình sinh thái tiêu biểu được xuất bản có chuyên luận Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên (Farther afield in the study of nature – oriented literature. Charlottesville: university press of Virginia, 2000) của giáo sư Murphy, cuốn sách bàn về văn học sinh thái, trong đó gồm tiểu thuyết, văn xuôi phi tiểu thuyết, và thơ ca.  Chuyên luận Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mĩ của Meisel bàn luận về lí luận phê bình sinh thái và môi trường, phong cảnh, hoang dã.., và Bài ca của trái đất của Bate… Khác với trước tác của 9 năm về trước, trong bộ chuyên luận về phê bình sinh thái này, Bate mở rộng góc nhìn phê bình từ văn học chủ nghĩa lãng mạn, từ cổ đại Hi La đến toàn bộ văn học phương Tây thế kỉ 20, hơn nữa còn đi sâu bình luận về lí luận phê bình sinh thái. Giáo sư Kupe đại học Manchester chủ biên cuốn Văn bản nghiên cứu xanh: từ chủ nghĩa lãng mạn đến phê bình sinh thái do nhà xuất bản nổi tiếng Routledge xuất bản. Không giống với các học giả Mĩ, học giả Anh ngay thời kì đầu đã nghiêng hơn về “nghiên cứu xanh” chứ không phải “phê bình sinh thái”. Cuốn sách này chia làm 3 phần: “truyền thống xanh”, “lí luận xanh” và “đọc hiểu xanh”. Cũng năm 2000 tập hợp các báo cáo tại đại hội lần thứ 2 của ASLE được xuất bản với tiêu đề Đọc dưới sự chỉ đường của tự nhiên: tuyển tập mới về phê bình sinh thái.
Bước sang thế kỉ 21, phê bình sinh thái phát triển sâu rộng hơn. Năm 2001, Buell cho xuất bản cuốn Viết vì thế giới đang lâm nguy: văn học , văn hóa, môi trường nước Mĩ và các quốc gia khác. Cuốn sách này có điểm khác so với các trước tác khác là không chỉ đơn phương bàn luận văn học có khynh hướng tự nhiên nữa, mà tuyển chọn cùng thảo luận tác phẩm văn học có khuynh hướng tự nhiên tiêu biểu và những tác phẩm văn học có khuynh hướng văn hóa, làm rõ quan điểm tư tưởng khác nhau trên hệ thống diễn ngôn luân lí sinh thái, hiện đại hóa, phát triển, tài nguyên, ô nhiễm. Phương pháp nghiên cứu như vậy có lợi đối với việc thúc đẩy sự hình thành những tri thức chung cơ bản trong quá trình đối thoại của những quan điểm khác nhau, đồng thời làm cho phê bình sinh thái càng có tính sắc bén, mang đến mô hình có ý nghĩa gợi ý cho văn học truyền thống theo cái nhìn sinh thái.  Meisel chủ biên cho xuất bản cuốn Một trăm năm của phê bình sinh thái thời kì đầu, tiến hành nhìn lại và tổng kết toàn diện về phê bình sinh thái, đẩy phê bình sinh thái về giữa thế kỉ 19. Tuyển tập Viết về tự nhiên siêu việt: biên giới của phê bình sinh thái rộng lớn do Armbruster và Wallace đồng chủ biên tập hợp bài viết của 23 học giả nổi tiếng.
Năm 2002, Tạp san nghiên cứu văn học uy tín Nghên cứu văn học liên ngành năm đó cũng liên tục giới thiệu hai kì đặc san về phê bình sinh thái: Thi học sinh thái (số 3) và Phê bình văn học sinh thái (số4).Roosendaal chủ biên tuyển tập Xanh hóa nghiên cứu văn học: văn học, luân lí và môi trường, Dries cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái: sáng tạo tự ngã và hoàn cảnh trong văn học Indian Mĩ và môi trường. Cuốn sách này bắt đầu bằng phân tích  tác phẩm của nhà văn Indian Mĩ, bàn về phương thức tồn tại của sinh thái. Tác giả của cuốn sách phát biểu một cách rõ ràng mục đích của bà là “xây dựng sự tồn tại đẹp đẽ mang tính chỉnh thể sinh thái. John Pamu chủ biên cuốn tuyển tập Truyền thống môi trường trong văn học Anh ngữ, trong đó sưu tầm 15 bài bàn về phê bình sinh thái từ góc độ lí luận và thực tiễn.  Cuốn giáo trình Lí luận khởi điểm: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa do Peter Barry soạn được xuất bản lần thứ 2 ở Nhà xuất bản đại học Manchester, cuốn giáo trình này có thêm một chương mới là “Phê bình sinh thái”, giới thiệu một cách toàn diện sự ra đời, thuật ngữ, hàm nghĩa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinh thái, còn thêm một bài liệt kê thực tiễn phê bình sinh thái. Cùng năm, cuốn Dẫn luận phê bình sinh thái thể kỉ 21 do Julian Wolfreys chủ biên do nhà xuất bản Edinburgh xuất bản, cuốn sách cũng dùng một chương giới thiệu về phê bình sinh thái. Như vậy, sự giới thiệu của các giáo trình tài liệu cho thấy phê bình sinh thái đã nhập vào dòng chính của học thuật.
Năm 2003 giáo sư Lough đại học Oregon cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái thực dụng: văn học, sinh thái học và môi trường. Lough bàn luận một cách sâu sắc về tính tất yếu của phê bình sinh thái, quan hệ giữa phê bình sinh thái và khoa học, đồng thời, từ góc độ văn hóa sinh thái đương đại tiến hành bình luận hàng loạt các văn bản văn học, đặc biệt là của Willa Cather, William Dean Howells, hi vọng với những bình luận này có thể “thúc đẩy phê bình sinh thái được vận dụng rộng rãi hơn, mở rộng biên giới ảnh hưởng của phê bình sinh thái”. Cũng trong năm này, Blanche và Scott Slovic chủ biên cuốn Văn bản ISLE : phê bình sinh thái 1993-2003 tuyển chọn những văn bản nghiên cứu tiểu biểu trong 10 năm của “Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường”. Trong cuốn này chú trọng bình giá lại giá trị của văn học đặc biệt là văn học truyền thống từ góc độ sinh thái, chỉ ra phê bình sinh thái cần phải “có cách đọc mới về những nhà văn viết về môi trường quen thuộc”.
Năm 2004 Garrard đại học Bath Spa Anh xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái bàn về diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ 8 phương diện như ô nhiễm, tư tưởng (như chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, tư tưởng chủ nghĩa môi trường của nhân loại trung tâm), điền viên, hoang dã, ghi chép thông báo, nhà ở, động vật, trái đất.
Thành tựu quan trọng nhất của năm 2005 là bộ chuyên luận phê bình sinh thái thứ 3 của Lawrence Buell mang tênTương lai của phê bình môi trường: nguy cơ môi trường và tưởng tượng văn học. Buell đặt phê bình sinh thái vào chỉnh thể lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và văn học để khảo sát, chỉ ra một cách rõ ràng “sự chuyển hướng của sinh thái môi trường trong những nghiên cứu về văn học và văn hóa” (the environment turn in literary and cultural studies), “diễn ngôn sinh thái của văn học”(literary ecodiscourse) được sử dụng rộng rãi hơn, hình thành hệ thống toàn cầu hóa hơn, được thảo luận liên ngành nhiều hơn, được cấu thành từ nhiều phương diện hơn”. Cuốn chuyên luận này đã tổng kết sự ra đời, phát triển, thành tựu cũng như hạn chế của phê bình sinh thái; bàn luận về quan hệ giữa thế giới, văn bản, và phê bình sinh thái, đặc biệt là  tưởng tượng và biểu hiện của môi trường phân tích quan niệm không gian, địa điểm và tưởng tượng bản địa hóa và toàn cầu hóa; nhấn mạnh luân lí phê bình sinh thái và nhiệm vụ chính trị; cuối cùng đưa ra một loạt quan điểm mang tính xây dựng đối với sự phát triển tương lai của phê bình sinh thái. Cuối cùng của cuốn sách còn có một phụ lục thuật ngữ, giải thích tường tận những thuật ngữ thường dùng nhất của phê bình sinh thái, có tính thực dụng cao.
Năm 2006 học giả Hayes đại học Stanford đã đăng một bài dài trên Tạp chí hội ngôn ngữ học hiện đạimang tên Dẫn luận phê bình sinh thái cho những người tham dự sau bình giá sự phát triển mới nhất của phê bình sinh thái..
Phê bình sinh thái cũng nhận được sự chú ý cao độ của những học giả từ những quốc gia Âu Mĩ không dùng tiếng anh làm ngôn ngữ chính. Murphy cho rằng, quốc tế hóa hoặc toàn cầu hóa là đặc điểm nổi bật của phê bình sinh thái. Ngoài phạm vi văn học  Anh ngữ, phê bình sinh thái các nước, Nhật Bản, Ấn Độ, Mexico, Australia, Nigeria, Malta, Estonia, khu vực Caribbean… cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Để phát huy đặc điểm này, năm 1998 Murphy đã chủ biên cuốn Văn học về tự nhiên: một bộ bách khoa thư mang tính quốc tế, tuyển chọn bài viết về phê bình sinh thái của các học giả đến từ hơn 10 quốc gia. Ông nói: “Sự phát triển của phê bình sinh thái cần tiến hành nhìn nhận mang tính quốc tế đối với văn học biểu hiện tự nhiên trong phạm vi toàn thế giới”, mà cuốn sách ông chủ biên chính là bước đầu tiên của hành trình đó”(Patrick D. Murphy (ed) Literature of nature: An international Sourcebook, chicago: Fitzroy Dearborn Publishers, 1998, p xiv). Năm 1997 Svend Erik Larsen, Annelise Ballegaard Petersen cùng chủ biên chuốn Về tự nhiên: văn học và ngoài văn học (Nature: Literature and its otherness, Odense University Press, 1997). Năm 1998 học giả Đức Jan Hollm xuất bản chuyên luận Chủ nghĩa lí tưởng của người Mĩ: văn học trong thế giới xanh (Die Angloamerikanische Okotopie: Literarische entwurfe einer grunen welt, Bern: P Lang, 1998). Năm 2002, học giả người Pháp Alain Suberchicot xuất bản chuyên luậnVăn học Mĩ và sinh thái học ( Littérature américaine et écologie, Paris, L’Harmattan, 2002). Năm 2004, học giả Mĩ Latinh Walter Rojas Perez xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái đương đại (La ecocritica hoy, San José Costa Rica: San José, 2004). Năm 2005 Elizabeth M. DeLoughrey, Renee K. Gosson, và George B. Handley cùng soạn cuốn Văn học và Sinh thái môi trường Caribbean (Caribbean literature and the Environment, Charlottesville: University of Virginia Press, 2005) …
Hội nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE) hiện nay đã trở thành tổ chức học thuật có tính quốc tế về phê bình sinh thái. Chỉ trong vòng 10 năm, tổ chức này đã phát triển và gây ảnh hưởng nhanh và rộng trong phạm vi thế giới, đã thành lập 8 phân hội ở Nhật Bản (1994), Anh (1996), Hàn Quốc(2001), Australia và New Zealand (2003), Đại lục châu Âu (2003), Ấn Độ (2004), Canada(2005) gồm hàng nghìn hội viên, ASLE mỗi lần đại hội đều có 4-500 người tham gia. Năm 2004 “Hội nghiên cứu văn học, văn hóa và môi trường châu Âu” (European Association for the study of literature, culture and environment)  tổ chức học thuật phê bình sinh thái châu Âu độc lập so với ASLE được thành lập, gọi tắt là EASLCE. Tôn chỉ của hội nghiên cứu này là mang đến một diễn đàn châu Âu để cho các học giả nghiên cứu và giao lưu, suy nghĩ về quan hệ giữa văn học và tự nhiên và những biểu hiện của nó trong văn hóa, văn học.
Có thể nói, hiện này, trào lưu phê bình sinh thái đang dần dần lan rộng trên toàn thế giới.
Chú thích

(1) Cheryll Glotfelty & Harold Fromm, The ecocriticism Reader: Landmarks in literary ecology. The university of Georgia Press, 1996, P18
(2) Karl Kroeber, Ecological literary Criticism: Romantic Imagining and the Biology of Mind, Columbia University, Press, 1994, p25.
(3) Jonathan Levin On Ecocriticism (Aletter), PMLA 114.5 oct, p1098
(4) Donald Worster, The Wealth of Nature: Environmental History and the Ecological Imagination,Oxford University Press, 1993, p27
(5) Joseph W. Meeker, The comedy of sunvival: studies in literary ecology, Charles Scribner’s Sons, 1974, pp.3-4
(6) Karl Kroeber Home at Grasmere: ecological holiness, PMLA 89 (1974) pp132-41
(7) Cheryll Glotfelty & Harrold Fromm, The Ecocriticism Reader: Landmarks in literary Ecology, pp114-15
(8) Jonathan Bate, Romantic Ecology, wordsworth and the environmental tradition, Routledge, 1991, p11
(9) R.Kerridge & N.Sammells (ed), Writing the Environment: ecocriticism and literature, Zed books ltd.1998, p9
(10) Peter Bary, Beginning theory: An introduction to literary and cultural theory, Machester: Manchesters university press, 2002, p270
(11)  Karl Kroeber, Ecological Literary criticism: Romantic Imagining and the Biology of Mind, p1-9
(12)  R.Kerridge & N.Sammells (ed), Writing the environment: ecocriticis and literature, p32.
(13)  Julian Wolfreys(ed), Introducing Criticism at the 21st century, Edinburgh: edinburgh university press, 2002, p 173
(14) Ibid, p5
(15) William Slaymaker, On Ecocriticism (a letter), PMLA 114.5 (oct 1999), p 1100
(16) Patrick D. Murphy, On Ecocriticism (Aletter), PMA 114.5 (oct 1999), p. 1099
(17) Steve Grant “Finding nature in literature”, The Hartford Courant 16, (dcc 1998), F1
 
   
Đỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung
Ngô Hương Giang hiệu đính thuật ngữ từ tiếng Anh

Điểm nóng của lí luận văn học Trung Quốc những năm gần đây

lí luận văn học trung quốc..Dương Hướng Vinh[1]

Lời người dịch:

Việt Nam và Trung Quốc trong sự phát triển văn hóa xã hội nói chung, lí luận văn học nói riêng có nhiều nét tương đồng, tuy nhiên, từ sau cải cách mở cửa 1979 , lí luận văn học Trung Quốc có những bước đột phá ngoài sức tưởng tượng, họ có cả một chiến lược dịch thuật tinh hoa lí luận nước ngoài, và đến cuối thập niên 90, về cơ bản những lí thuyết văn học của phương Tây hiện đương đại đều được dịch và nghiên cứu tại Trung Quốc. Thế nhưng họ cũng vấp phải không ít những khó khăn cần phải khắc phục. Hội thảo này ít nhiều đã nói lên những điểm “nóng” trong nghiên cứu lí luận văn học ở Trung Quốc hiện nay. Qua những thông tin này, người dịch hi vọng độc giả Việt Nam cùng nghiền ngẫm về những vấn đề của nghiên cứu lí luận văn học trong nước.

Từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 6 năm 2012, Hội thảo toàn quốc về “Vấn đề chủ chốt hiện nay trong phát triển lí luận văn học” do Viện Văn học và Báo chí Đại học Tương Đàm kết hợp với Viện văn học và Truyền thông Báo chí Đại học Cát Thủ đã diễn ra thành công tốt đẹp. Đến dự có 30 chuyên gia đến từ 10 trường đại học như Đại học Nam Kinh, Đại học Tề Nam, Đại học Tương Đàm, Đại học Cát Thủ, Đại học Tây Nam, Đại học Sư phạm Hồ Nam, đại học Trùng Khánh, Đại học Khoa học Kĩ thuật Hồ Nam, Đại học Sư phạm Quý Châu và Viện giáo dục Tô Châu…, các học giả đã thảo luận sôi nổi xoay quanh vấn đề những hiện tượng nổi bật trong phát triển lí luận văn học và nhìn lại việc xây dựng hệ thống tri thức văn nghệ học.

  1. Hiện tượng nổi bật trong lí luận văn học

Từ những năm 80 của thế kỉ 20 cho đến nay, dưới sự ảnh hưởng của phương Tây, giới lí luận văn học Trung Quốc đổ xô nghiên cứu Chủ nghĩa hiện sinh, Phân tâm học, Mĩ học tiếp nhận, Chủ nghĩa cấu trúc…, khiến không ít người phải than vãn về tình trạng “thất ngữ” của lí luận văn học nước nhà. Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa ảnh hưởng ngày một sâu rộng, sự phát triển của lí luận văn học càng cần có một cái nhìn quốc tế, vì chỉ có tích cực thâm nhập vào vấn đề học thuật mang tính toàn cầu đang được quan tâm thì mới có thể trực tiếp tiến hành đối thoại với phương Tây, mới có thể thoát khỏi sự bế tắc do lí luận đơn thuần tạo ra, từ đó mới có thể xây dựng được cơ sở vững chắc cho cách tân lí luận và hướng ra thế giới bên ngoài. Chu Hiến (Đại học Nam Khai) đã điểm qua những vấn đề trọng điểm của lí luận phương Tây. Ông xuất phát từ quan điểm của nhà lí luận uy tín Jonathan Culler, cho rằng hiện nay các vấn đề mà giới học thuật phương Tây quan tâm là: Tự sự học, Jacques Derrida, Chuyển hướng luân lí học, Phê bình sinh thái, Lí luận hậu nhân loại, trở lại với mĩ học…Theo ông, Tự sự học can thiệp sâu rộng vào khoa học, đặc biệt là kết hợp với kĩ thuật thông tin, có thể đem điện ảnh, truyền hình… dung nhập vào phạm vi nghiên cứu, từ đó giải quyết hạn chế của Tự sự học truyền thống, mở ra không gian phát triển to lớn; khi mà Foucault và Lacan đang dần bị đẩy ra bên lề thì nhà nghiên cứu Hậu hiện đại Jacques Derrida đã dần dần chiếm vị trí trung tâm; chuyển hướng Luân lí học đã làm lật đổ hàng loạt các đối lập nhị nguyên trong cuộc sống, mang đến những vấn đề nghiên cứu thú vị, như chính trị văn hóa trong nghiên cứu văn học, đọc lại kinh điển, quan tâm đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, xã hội…; cùng với sự nhức nhối của vấn đề sinh thái và vấn đề nhìn nhận lại Chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận, sự hưng khởi của Mĩ học sinh thái không còn nghi ngờ gì nữa đã mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của lí luận văn học; “phạm trù trang trí”[1] do sự phát triển của kĩ thuật tạo nên đã làm thay đổi trí tuệ, hành vi, nhận thức của con người, khiến con người bước vào thời kì “hậu nhân loại”[2], lí luận “hậu nhân loại” sẽ có một không gian nghiên cứu rộng lớn; cùng với sự phát triển của chủ nghĩa hình thức mới và chủ nghĩa duy mĩ mới, quay trở lại với mĩ học cũng trở thành một trào lưu đáng lưu ý. Chu Vận (Viện giáo dục Giang Tô) xuất phát từ lí luận sản xuất văn hóa của Bourdieu tiến hành nhìn lại quan hệ phức tạp của phái Tiền phong và thị trường, nhấn mạnh sự cách tân của phái Tiền Phong, một mặt bao hàm phê phán và phủ định chế độ hóa và thương phẩm hóa nghệ thuật, biểu hiện cụ thể là lập trường cấp tiến phản thị trường, phản đại chúng; mặt khác nó lại tồn tại cùng với nguyên tắc vận hành của thị trường. Chu Kế Võ (Đại học Nam Kinh) tiến hành phân tích tác phẩm nổi tiếng “Kết thúc của nghệ thuật” của nhà phê bình nghệ thuật người Mĩ Arthur Danto, cho rằng “Kết thúc của nghệ thuật” là sự khái quát về giai đoạn phát triển của nghệ thuật phương Tây trên ý nghĩa bản thể luận, kế thừa những tư tưởng nghệ thuật và triết học của nhiều học giả khác. Chu Kế Võ cho rằng thông qua phân tích vấn đề cơ bản và manh mối hình thành của vấn đề này sẽ nảy sinh các tư tưởng mới về vấn đề nghệ thuật làm tiền đề cho giải thích các vấn đề nghệ thuật. Dương Hướng Vinh (Đại học Tương Đàm) tiến hành giải phẫu sự cấu thành ý nghĩa của vấn đề “thời thượng” trong lĩnh vực luân lí xã hội, cho rằng từ lâu trong lí luận về “thời thượng”, “thời thượng” được coi là biểu trưng cho phẩm vị giai cấp, là sự xác lập thân phận cá nhân, thể hiện chức năng phân biệt giai cấp. Nhưng lí luận thời thượng sau này, trên cơ sở xây dựng cấu trúc chức năng xã hội, lại muốn cải chính cấu thành chức năng phân biệt giai cấp của “thời thượng”, nhấn mạnh cấu thành ý nghĩa chức năng lựa chọn của tập thể thời thượng. Trong xã hội hiện đại, “thời thượng” thể hiện một đặc trưng quan trọng của tính hiện đại thẩm mĩ: “tính tạm thời” hoặc “cảm giác hiện tại” của cuộc sống, nhưng sự theo đuổi cái tân kì của “thời thượng” lại thể hiện ra một nghịch lí: trong cấu thành tự ngã của thời thượng có xu hướng giải cấu tự ngã. Ngoài ra, dựa theo giải thích thẩm mĩ của Kant để nhìn nhận vấn đề “thời thượng”, ý nghĩa mang tính hiện đại thẩm mĩ mà “thời thượng” cấu thành còn thông qua nới rộng cự li với đời sống để thực hiện sự lật đổ đời sống bình lặng thường ngày, tiến đến cứu rỗi thẩm mĩ cho cá thể. Lưu Trung Vọng (Đại học Tương Đàm) lấy nghiên cứu của Cù Thu Bạch làm ví dụ, cho rằng gần 10 năm nay trong nước và ngoài nước từ văn hóa cánh tả, tiến trình tư tưởng Trung Quốc, lí luận nước ngoài… đã sâu sắc hóa nghiên cứu tư tưởng văn nghệ của Cù Thu Bạch, nhưng hiện nay nếu sử dụng cách nhìn liên ngành, nghiên cứu chỉnh thể, so sánh…thì đối với tư tưởng của ông vẫn còn không gian rộng lớn để nghiên cứu. Đỗ An (Đại học Sư phạm Quý Châu) tiến hành phân tích lí luận tính chủ thể của Nietzche và chủ nghĩa hậu hiện đại, nhấn mạnh rằng trong tư tưởng của Nietzche, chủ thể là sản phẩm của ý chí quyền lực, gợi ý cho tư tưởng hậu hiện đại dùng Phổ hệ học thay thế bản thể luận, lấy mô hình sự khác biệt của lực học thay thế mô hình thống nhất siêu hình học. “Chủ nghĩa góc nhìn” của Nietzche đã loại bỏ “mô hình độ sâu”, phản đối “đại tự sự”, mang đến vũ khí phương pháp luận nhằm giải phẫu và khám phá chủ thể cho những nhà hậu hiện đại. Nietzche kết hợp phê phán tính chủ thể với phê phá tính hiện đại, mang đến cho lí luận phê phán chủ thể hiện đại và hậu hiện đại hai mô hình phê phán.

  1. Nhìn lại cấu thành tri thức văn nghệ học

Sang thế kỉ mới, cùng với sự hưng khởi của nghiên cứu văn hóa, một loạt các mệnh đề khoa học liên ngành đã trở thành điểm “nóng” của giới văn nghệ học, trong văn nghệ học dần dần xuất hiện xu hướng mở rộng biên giới và mở rộng khoa học. Cùng với sự ngoại biên hóa của văn học, sự hưng thịnh của văn hóa đại chúng, sự phát triển của lí luận văn học hiện nay sẽ đi về đâu khi phải phải đối mặt với nghiên cứu chuyển hướng văn hóa? Làm thế nào để vẽ lại bản đồ khoa học văn nghệ học trong điều kiện khuếch trương của khoa học? Trước mắt, lối thoát trong cấu thành tri thức văn nghệ học là gì? Những vấn đề này cũng là chủ đề quan trọng của hội thảo. Lý Thủy Hà (Đại học Tương Đàm) xuất phát từ lí luận văn học chủ nghĩa Mác cho rằng những phạm trù như toàn cầu hóa, tính hiện đại, phê phán văn hóa… đã mở rộng nghiên cứu lí luận văn học Mác xít, nghiên cứu văn học trong tình thế mới vừa phải làm mới phạm trù truyền thống, vừa phải khám phá ra phạm trù mới, như vậy mới có thể kích hoạt sinh mệnh của lí luận quá khứ, thúc đẩy sự phát triển của lí luận văn học. Triệu Tịnh Dung (Đại học Tề Nam) lại kết hợp kinh nghiệm thực tập sinh tại Mĩ của mình, từ tầng diện phương pháp nghiên cứu nhấn mạnh nghiên cứu lí luận văn học cần phải dựa vào triển khai văn bản chứ không được bàn vo về lí luận; cần phải tích cực thâm nhập vào đời sống chứ không được bàng quan đứng ngoài; phương thức tư duy cần phải đa dạng tránh cứng nhắc; cần phải xuất phát từ tình hình trong nước chứ không chỉ đơn thuần theo đuổi phương Tây. Âu Dương Hữu Quyền (Đại học Trung Nam) cho rằng sự giảm bớt của đội ngũ nghiên cứu văn học truyền thống, sự bất cập của thể chế học thuật, đặc biệt là sự hưng thịnh của văn học số… khiến nghiên cứu văn học hiện nay đứng trước nguy cơ trùng trùng. Văn nghệ học phải chuyển đổi là điều tất nhiên, không chỉ cần mở rộng biên giới khoa học, kết hợp văn học và cuộc sống, phi văn học và các khoa học khác; còn cần phải tiến hành làm mới học thuật, cả phạm trù khái niệm lẫn mệnh đề lí luận đều phải biến đổi theo thời đại; còn cần phải làm mới hơn ý thức học thuật, tích cực ứng phó với hiện thực văn học mới. Tiếu Vĩ Thắng (Đại học Tây Nam) nhấn mạnh sự quan tâm quá mức của nghiên cứu văn học đối với hình thái ý thức, chính trị đã làm mất đi sự mẫn cảm nghệ thuật, ông lấy vấn đề thân phận làm ví dụ, cho rằng quan hệ giữa người và động vật, người và kĩ thuật có thể làm thay đổi kết cấu tâm trí của con người, đồng thời cũng làm thay đổi vấn đề thân phận. Ông chỉ ra, sự phát triển của lí luận văn học hiện nay nên chú trọng tính liên ngành, không thể chỉ hạn chế ở trong khung lí luận văn học truyền thống. Vương Hữu Lượng (Đại học Sư phạm Trùng Khánh) lấy “Phê bình mới” làm làm ví dụ phân tích ba chiều tồn tại trong lí luận văn học, cho rằng cách hiểu của giới lí luận văn học Trung Quốc đối với lí luận văn học có một khuynh hướng là “đơn thuần hóa”, chỉ lí giải và nắm bắt lí luận văn học trên tầng quan niệm. Khuynh hướng này kìm hãm sự cách tân lí luận và sự ra đời của lí luận, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và trình độ của chúng ta trong việc tiếp thu lí luận phương Tây. Vương Hữu Lượng lấy phê bình mới Anh Mĩ làm ví dụ, nhấn mạnh lí luận văn học không phải là một chiều đơn chất, mà là không gian ba chiều, như chiều quan niệm, chiều phương pháp, chiều vấn đề. Chỉ nhận thức được tính đa chiều của lí luận văn học thì mới có giá trị cho việc tiếp thu lí luận, sản sinh lí luận và đổi mới lí luận. Lý Thắng Thanh (Đại học Khoa học Kĩ thuật Hồ Nam) trước thực trạng nghiên cứu văn nghệ học quá coi trọng nghiên cứu Tri thức luận, không chú trọng nghiên cứu Giá trị luận đã đề xuất nên phát triển nghiên cứu văn học chú trọng đến con người, chú ý đến đời sống hiện thực. Đồng Cường (Đại học Nam Kinh) xuất phát từ sự phân biệt giữa lí luận văn học Trung Quốc và phương Tây, đề xuất nghiên cứu lí luận văn nghệ nên coi trọng tính kế thừa lịch sử của lí luận và nên kết hợp lí luận với đối tượng nghiên cứu cụ thể. Lưu Hàm (Đại học Cát Lâm) cho rằng sự giải thích của con người đối với thế giới khiến lí luận văn nghệ ra đời, nhưng lí luận lại có sự kích động, thăng hoa lên thành cái phổ quát đã dẫn đến thần thoại hóa lí luận, mà thần thoại hóa lí luận thì sẽ rất dễ thoát li hiện thực, vì thế cần phải không ngừng điều chỉnh lí luận, làm mới sự phát triển của nó. Vương Viên Ba (Đại học Tương Đàm) cho rằng, sự phát triển của lí luận văn học hiện nay cần tích cực xâm nhập vào thực tiễn văn hóa thường nhật, mà điện ảnh vừa kết hợp được nhiều nhân tố của các ngành nghệ thuật khác, như tiểu thuyết, kịch, mĩ thuật, âm nhạc… vừa là hoạt động thương mại triệt để; vừa trực tiếp liên hệ với xã hội, lịch sử, văn hóa, chế độ, hình thái ý thức… vừa quan hệ mật thiết với đời sống thường nhật của mỗi cá thể./.

Đỗ Văn Hiểu

(Dịch từ tiếng Trung, Theo Tạp chí khoa học Đại học Khoa học Kĩ thuật Hồ Nam, chuyên san về Khoa học xã hội, số 6 năm 2012, trang 184-185)

Hướng phát triển và những vấn đề của lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ 21 (2)

12612-phuongtayĐỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung
II
Như vậy, trong ngữ cảnh “tư tưởng du mục”, “phồn tạp”, lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại liệu có phải là hoàn toàn không thể tìm thấy tiêu điểm lí luận tương đối tập trung, tương đối rõ ràng không? Từ thực tế nghiên cứu cho thấy không phải như vậy. Tức là, tuy mỗi phương pháp, quan điểm, lí luận chiếm một trận tuyến, vận hành độc lập, giương ngọn cờ riêng, nhưng những vấn đề lí luận lớn của thế kỉ 20 vẫn thường xuất hiện trong trước tác lí luận phê bình, nhiều khi tranh luận về chúng diễn ra hết sức kịch liệt. Nói chung, trong quan điểm lí luận phong phú đa dạng đó, ít nhất chúng ta có thể nắm được bốn mạch diễn biến phát triển.
Thứ nhất, tranh luận giữa lí lính và cảm tính. Đây dường như là vấn đề đã quá cũ trong quá trình phát triển của tư tưởng phương Tây. Tuy đã sang thế kỉ 21 nhưng tranh luận giữa lí tính và cảm tính và tranh luận về những vấn đề liên quan đến chúng như tranh luận giữa tâm linh và thân xác, siêu việt và trần thế, khống chế và tự do vẫn không hề dừng lại, thậm chí còn xuất hiện với dáng vẻ đa dạng, phong phú. Mặc dù lí luận văn học hậu hiện đại thiên về nhấn mạnh cảm tính, thân xác, trần thế, tự do, nhưng khi thuyết minh khuynh hướng giá trị, lập trường của bản thân trên phương diện lí luận thì lại rơi vào “cạm bẫy” lí tính và lí luận. Nhìn từ góc độ khác, phản kháng và giải cấu trúc lí tính và lí luận, tất yếu phải vận dụng vũ khí lí tính và lí luận. Bản thân sự “mâu thuẫn” này cho thấy: lí luận (bao gồm cả phê bình) không thể bị “giải cấu trúc”. Ví dụ, Kinh điển phương Tây của Harold Bloom phản đối “lí luận hóa” nghệ thuật và văn học, kiên trì quan điểm “đối lập nghệ thuật và lí luận”. Nhưng, vũ khí ông dùng để phản đối “lí luận hóa” lại là lí luận văn học của chủ nghĩa lãng mạn thế kỉ 18, 19, đặc biệt là lí luận văn học lấy Rousseau làm đại diện, mà hạt nhân của nó là đề xướng “tự do thẩm mĩ”, trên thực tế ở đây đã dùng “thẩm mĩ” để phản đối “lí luận”. Tiếp đó, cái gọi là “thẩm mĩ” vẫn cần dùng “lí luận” để giới định và thuyết minh; một khi đã dùng “lí luận” để giới định và thuyết minh, “thẩm mĩ” liền rơi vào “cạm bẫy” lí luận.
Rõ ràng lí luận văn học và nghệ thuật phương Tây từ thế kỉ 20 luôn tồn tại trào lưu lớn phản lí tính và phản lí luận. Sự thực này khiến chúng ta nghĩ đến “lí luận” trên thực tế là con dao hai lưỡi, nó cần tiến hành phản tư, khái quát về thực tiễn sáng tác văn học (“lí luận hóa”), nhưng khi thực hiện một khái quát nào đó, dường như lại tạo ra một sự “gò bó” hữu hình hoặc vô hình đối với thực tiễn sáng tác, tạo ra sự “uy hiếp” nhất định đối với cá tính của nghệ sĩ. Mâu thuẫn này có lẽ chúng ta không bao giờ thoát ra được. Nếu chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn này, vẫn không rời được mâu thuẫn giữa lí tính và cảm tính, hoặc vẫn tự cho rằng lí tính cao hơn cảm tính là đúng, thì chắc chắn không bao giờ thoát khỏi cái vòng quái đản này. Lối thoát duy nhất có lẽ là: chúng ta phải nắm rõ sứ mệnh của bản thân lí luận, dùng phương thức của bản thân nó để xây dựng một hệ thống giá trị, chứ không phải “trực tiếp chỉ đạo” thực tế sáng tác, hoặc tệ hơn là “giáo huấn” nhà văn và người sáng tạo nói chung. Thực ra, cái mà chúng ta có thể nhìn thấy từ các loại “khiêu chiến” của lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại chính là sự phản đối đối với thứ “lí luận” dùng danh nghĩa “linh mục” để giáo huấn “tín đồ”.
Về vấn đề lí tính, có một điểm rất đáng lưu tâm là chúng ta thường không phân biệt tỉ mỉ hàm nghĩa khác nhau của “lí tính”. Ví dụ như, “lí tính” với tư cách là suy luận, căn cứ của suy luận và “lí tính” với tư cách là giả thiết siêu hình về ý nghĩa, giữa hai thứ thực ra có sự khác biệt rất lớn: cái trước là sự suy diễn xuất phát từ thực tế và kinh nghiệm, chú trọng quan hệ logic nhân quả, “lí tính” theo nghĩa này gần với “lí tính công cụ”, thường kết hợp với chủ nghĩa khoa học; còn cái sau xuất phát từ giả thiết tiên nghiệm phán đoán xem hiện thực có “hợp lí” hay không, chú trọng kết hợp giữa siêu hình và cụ thể, giữa quan niệm và hiện tượng, thường kết hợp với siêu hình học. Hai loại “lí tính” này vừa có khả năng đối lập nhau, lại vừa có thể dùng cái này phản đối cái kia, hoặc giao nhau. Nếu không khảo sát tỉ mỉ điều này sẽ rất dễ hiểu lầm rằng có một số khác biệt trên lập trường của các nhà lí luận bình khi họ sử dụng thuật ngữ và tiến hành bình luận.
Thứ hai, tranh luận giữa khoa học và nhân văn. Chủ nghĩa khoa học là trào lưu tư tưởng lớn ở phương Tây từ thế kỉ 19, chúng ta không hề xa lạ với biểu hiện của nó trong lí luận phê bình văn học. “Chuyển hướng ngôn ngữ học” nổi tiếng trong giới tư tưởng phương Tây thế kỉ 20 về bản chất là ví dụ điển hình của việc chủ nghĩa khoa học thâm nhập vào ngành nhân văn. Sau đó, đủ các loại lí luận văn học chủ nghĩa hình thức (bao gồm cả “phê bình mới”) củng cố thêm địa bàn của chủ nghĩa khoa học trong ngành nhân văn. Văn học theo đuổi việc lấy “con người”, “ý nghĩa”, siêu hình làm điểm quy tụ trong truyền thống (bao gồm cả chủ nghĩa lãng mạn) rơi vào tình trạng khó khăn. Trong ngữ cảnh mới của thế kỉ 21, chủ nghĩa khoa học tiếp tục mở rộng “chiến địa”, không chỉ phát triển tinh tế, tỉ mỉ các phương pháp của lí luận văn học chủ nghĩa hình thức (ví dụ như các phương pháp phân tích văn bản), mà còn trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện các lĩnh vực phê bình mới, ví dụ như phê bình vi tính hóa, xung đột giữa con người và máy móc, ngôn ngữ của con người và lập trình vi tính, trên thực tế đã dùng phương thức mới chiết xạ ra tình cảnh mới của cạnh tranh giữa khoa học và nhân văn trong thời đương đại.
Một bối cảnh quan trọng của cạnh tranh giữa khoa học và nhân văn trong tư tưởng phương Tây đương đại là sự phân li giữa “sự thực” và “giá trị” từ phong trào Khai sáng, sự phân li này trong thế kỉ 20 được đông đảo mọi người tiếp nhận thông qua phân tích triết học. Vì thế, cạnh tranh giữa khoa học và nhân văn ngày nay thường thể hiện ra ở sự cạnh tranh giữa “sự thực” và “giá trị”, tức là tranh luận “sự thực” và “giá trị” cái nào quan trọng. Về tổng thể, lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại quan tâm nhiều hơn đến phân tích tỉ mỉ “sự thực”, “suy lí”, “hình thức”, “kết cấu”, “văn bản”, “ngữ cảnh”, thậm chí có lúc quá phức tạp, bỏ qua phán đoán giá trị và sự tham gia của hình thái ý thức, nhấn mạnh lập trường “trung lập” và “trung tính”. Ở phương diện khác, chủ nghĩa khoa học phát động khiêu chiến, lật đổ đối một số chủ đề lớn trong truyền thống chủ nghĩa nhân văn, ví dụ như “tính chủ thể”, “tổng thể hóa”, “đồng chất hóa”, “nguyên tự sự”, “chân lí”… Trong tình hình hiện nay, tranh luận về phương diện này không chỉ tiếp tục duy trì mà có lúc còn tương đối kịch liệt, đến nay vẫn khó nhận ra cái nào thắng cái nào, tranh luận này có thể vẫn sẽ tiếp tục xảy ra trong thời gian dài. Tất nhiên sự dung hòa giữa khoa học và nhân văn không phải là không có khả năng, nhưng hai thứ có thể đạt được sự dung hợp sâu sắc hay không lại rất đáng phải suy nghĩ.
Thứ ba, tranh luận giữa quan niệm phát triển tuyến tính và quan niệm phát triển phi tuyến tính. Về đại thể có thể nói, quan niệm phát triển trong tư tưởng phương Tây trước đó là quan niệm tuyến tính, chú trọng quan hệ logic nhân quả, tiến hóa. Hạt nhân của quan niệm phát triển này nằm ở sự theo đuổi tính liên tục trong sự phát triển lịch sử. Từ thời hiện đại và hậu hiện đại tình huống đã thay đổi về cơ bản, quan niệm phát triển tuyến tính, nhất trí, liên tục đã nhường chỗ cho quan niệm phát triển phi logic, phi trung tâm, không liên tục, đứt đoạn. Tư tưởng “du mục” hoặc “đa nhánh” của Deuleze, đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng hậu hiện đại trên vấn đề này, khác biệt với “logic hình cây” trong truyền thống(…). Quan niệm phát triển tuyến tính của truyền thống trong lĩnh vực lí luận phê bình văn học quả thực đã tạo ra rất nhiều hậu quả đáng phải suy nghĩ, ví dụ như bệnh giản đơn hóa, chủ nghĩa giáo điều, quyết định luận, cơ giới luận, khiến cho một số nhà lí luận tiên tiến đoạn tuyệt triệt để với quan niệm phát triển tuyến tính trong truyền thống. Nhưng ở một phương diện khác, sự phát triển của tư tưởng và lí luận có phải là đứt đoạn, tản mạn, hoặc có phải là không tìm ra đầu mối không, cũng là một nghi vấn lớn.
Thứ tư, vấn đề giải cấu trúc và xây dựng kết cấu. “Giải cấu trúc” đã trở thành đặc trưng điển hình của hậu hiện đại. Mục tiêu mà những người theo chủ nghĩa giải cấu trúc đối chọi là “đại tự sự” hoặc “đại diễn ngôn”, chúng phần lớn là xuất phát điểm của lí luận phê bình văn học trong truyền thống hoặc là “giả thuyết lí luận” mà lí luận theo đuổi, ví dụ như phán đoán thiện – ác trên phương diện đạo đức, giải phóng và tự do thẩm mĩ, mục đích công lợi của hình thái ý thức. Thực ra, dùng cách nói quen thuộc, giải cấu trúc về cơ bản có thể gọi là phản tư có tính phê phán. Phản tư phê phán nghiêm túc cẩn thận lại là điều rất cần thiết, do đó, chúng ta có thể thấy, “giải cấu trúc” trở thành sách lược của các nhà lí luận và các nhà phê bình, tức là họ mượn tiếng “giải cấu trúc” để khoa trương lập trường quan điểm của mình. Nếu giải cấu trúc tất cả “đại diễn ngôn” theo quan điểm của những người như Lyotard thì vấn đề nghiêm túc hơn đặt ra là, chúng ta dựa vào cái gì để phản tư và phê phán vấn đề của lí luận văn học?
Nói một cách khách quan, trong thời điểm chuyển hướng trọng đại mà lí luận phê bình văn học đối mặt, nếu như không có sự phê phán và giải cấu trúc đối với lí luận vốn có thì không thể có đột phá căn bản; nhưng lí luận của hậu hiện đại khi giải cấu trúc lí luận vốn có, trên thực tế lại khuếch trương lí luận hoặc quan điểm của bản thân họ. Ví dụ, khi chúng ta đọc cẩn thận tác phẩm của những “bậc thầy” giải cấu trúc (từ Nietzsche đến Foucault, Lyotard), trên thực tế có thể phát hiện ra một sự thật: khi tiến hành giải cấu trúc quan niệm và lí luận vốn có, họ cũng đồng thời xây dựng quan điểm và lí luận của bản thân mình(…). Vì thế, khi chúng ta đối mặt với các phạm trù mà chủ nghĩa hậu hiện đại tấn công, như tính chủ thể, tính hợp pháp, tính đồng chất, trung tâm hóa, tính liên tục, nguyên tự sự, chân lí, vĩnh hằng, chúng ta cần phải giữ một cái đầu tỉnh táo, không thể để bị mê hoặc bởi biểu hiện bên ngoài của họ, mà nên tiến hành phân tích tỉ mỉ, cẩn thận những vấn đề lí luận.
Chúng ta biết rằng, từ chủ nghĩa hiện đại thế kỉ 20, “phản truyền thống” trước sau đều là điều mà các lí luận mới và chủ nghĩa tiên phong muốn thể hiện ra trên phương diện lí luận, đồng thời cũng là một trong những vũ khí vô cùng quan trọng của chúng. Nhưng, trong lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại, tuy tranh luận liên quan đến “truyền thống” vô cùng phức tạp, nhưng nó vẫn là một vấn đề quan trọng trong ngữ cảnh “đa nguyên hóa”. Thực tế này cho chúng ta thấy, từ góc độ phát triển lịch sử, “truyền thống” trước sau đều là vấn đề quan trọng không thể né tránh, con người không thể không quan tâm, nhiều khi còn là vấn đề quan tâm chủ yếu của các loại lí luận mới. Chân lí của nó là: một mặt, “truyền thống” trước sau đều là tài nguyên mà chúng ta buộc phải dựa vào khi tiến hành xây dựng lí luận mới và chống lại trên phương diện lí luận; mặt khác, tuy thực sự muốn phản đối “truyền thống”, nhưng trên thực tế, “truyền thống” rất khó bị “phản lại”, giống như giải cấu trúc lí luận vốn có lại vẫn cần mượn vũ khí lí luận, phản “truyền thồng” cũng vẫn thường phải mượn truyền thống.
Trong lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại, chú ý đến vấn đề “truyền thống” chủ yếu thể hiện ở việc tái bình giá các vấn đề lí luận lớn trong lịch sử văn học và “kinh điển” văn học, tức là “đánh giá lại giá trị” của nó. Tất nhiên, “đánh giá lại giá trị” không phải đến nay mới bắt đầu. Đầu thế kỉ trước, Nietzche từng làm chấn động cả thế giới với khẩu hiệu “đánh giá lại tất cả các giá trị”, sau đó, “đánh giá lại giá trị” dường như đã trở thành “quán tính”, thói quen trong tư tưởng phương Tây. Ví dụ như Kinh điển và thời đại của Frank Kermode, Hình thái ý thức và hình thức kinh điển của John Guillory. Thông qua truy vấn vấn đề mang tính căn bản “kinh điển của ai” này, tiến thêm một bước đề xuất hệ thống vấn đề lí luận như: quan hệ giữa kinh điển và quyền lực, giữa kinh điển và uy quyền, giữa kinh điển và giải thích, giữa kinh điển và hình thái ý thức, giữa kinh điển và tôn giáo, truyền thống, chân lí, đại chúng… Trong khi xem xét các vấn đề có tính căn bản như vậy, chúng ta không chỉ có thể thấy tiêu điểm tranh luận của lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại, mà còn có thể phát hiện ra đặc điểm tự thân của lí luận phê bình văn học phương Tây. Ví dụ như, ngày nay, có khá nhiều học giả nghiên cứu văn học vốn là những người làm việc trong giáo hội, sau đó tham gia vào “thể chế” như  trường đại học… Truyền thống mà họ tiếp nhận trên phương diện tín ngưỡng, quan niệm, rèn luyện học thuật khác xa với “truyền thống” của “thế tục”; mặt khác, trong truyền thống này, tranh luận vấn đề “kinh điển” cũng thường liên kết với vấn đề “chính thống” và “dị đoan” trong tôn giáo, liên kết giữa đa số và thiểu số trên phương diện “số người”, liên kết với “truyền thống lớn” và truyền thống nhỏ” mà họ quan tâm. Những truyền thống và tài nguyên riêng này của lí luận văn học phương Tây là những thứ mà chúng ta không có, cũng là thứ chúng ta thường không thể lí giải và thường có những hiểu lầm, khi quan tâm phương Tây, chúng ta cũng rất ít khi chú ý đến sự khác biệt đó.
Trong thời hậu hiện đại, vấn đề “kinh điển” gây chú ý nhiều nhất của lí luận văn học phương Tây là vấn đề quyền lực. Ví dụ như bài viết Kinh điển và thời đại của Frank Kermode xác định: “kinh điển” trước sau đều muốn hợp mưu với quyền lực, muốn xây dựng “quá khứ” cho hình thái ý thức chủ đạo, và biến “quá khứ” thành “hiện tại”. Vì thế, về đấu tranh quyền lực, “kinh điển” thường trở thành lĩnh vực chủ yếu mà đấu tranh tranh giành quyền lực của “kẻ phản bội” tất yếu phải chiếm lĩnh. Nếu như nhìn vấn đề như vậy, tranh luận liên quan đến “kinh điển” trên thực tế đã trở thành sự kéo dài của đấu tranh tranh giành quyền lực trong lĩnh vực khác, đặc biệt là trong lĩnh vực hình thái ý thức. Tất nhiên, các nhà lí luận và nhà phê bình đó biết rất rõ, loại “quyền lực” này là “quyền lực diễn ngôn”, chứ không phải là quyền lực nào khác. Vì thế, bàn luận về “quyền lực diễn ngôn” quyết không phải là chủ đề “không ai quan tâm” trong thời hậu hiện đại. Cho nên, chúng ta nhất định không được nghĩ nhầm rằng lí luận văn học phương Tây đương đại chỉ quan tâm đến “nghiên cứu nội quan” của văn học như Wellek và Warren nói. Thực ra, có lẽ họ còn quan tâm đến “vấn đề bên ngoài” dường như không còn thời thượng hơn cả chúng ta. Họ vô cùng hào hứng với vấn đề “thân phận” (các vấn đề thân phận khác nhau như: chủng tộc, dân tộc, quyền công dân, kẻ khác…) đã minh chứng rõ ràng cho phương diện này. Ở đây, chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây ngày nay. Tôi cho rằng, lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại rất quan tâm đến vấn đề truyền thống (giới lí luận văn học Trung Quốc lại không như vậy), hơn nữa, trước sau họ đều tranh luận vấn đề này với một cảm giác sứ mệnh, vì thế họ thường đưa vào trong thảo luận học thuật những vấn đề mà chúng ta cho rằng đã lỗi thời (ví dụ như vấn đề chính trị và hình thái ý thức). Hiện tượng này đáng để chúng ta phản tư sâu sắc(…).
Trong sự chú ý đến vấn đề truyền thống, một sự thật đáng được quan tâm là lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại khi truy nguyên và tranh luận về nhiều vấn đề to lớn luôn đem chúng truy ngược lại chủ nghĩa lãng mạn thế kỉ 18, 19. Ví dụ, khi bàn về phong cách, tự sự, văn bản, kinh điển, lịch sử văn học, phương pháp phê bình, tính chủ thể, cái chết của lí luận, thân phận, tính hiện đại, tính hậu hiện đại… dường như đều không xa rời chủ nghĩa lãng mạn. Có thể nói, vấn đề lí luận phê bình văn học hiện nay dường như đều là bắt đầu từ chủ nghĩa lãng mạn.
Sự thực này chí ít khiến chúng ta nghĩ đến ba vấn đề: thứ nhất, chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành nguồn gốc, chất liệu tinh thần chủ yếu của lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại. Ví dụ, chủ nghĩa giải cấu trúc giải cấu “đại diễn ngôn” mang tính chủ thể, cần mượn lí luận đề cao cá tính và tính ngẫu nhiêu của chủ nghĩa lãng mạn; các nhà hình thức chủ nghĩa muốn đề cao tính văn học cần phải tìm cơ sở lí luận trong khái niệm “thuần văn học”, “thuần thơ ca” của chủ nghĩa lãng mạn; phê bình sinh thái muốn phản lại tính hiện đại, cần phải khai thác chất liệu và đánh giá lại thơ ca điền viên trong chủ trương “nguyên thủy” và “tự nhiên” do chủ nghĩa lãng mạn đề xướng; lí luận “kết chùm” của những người như Deleuze rất khó nói là không chịu ảnh hưởng mang quan niệm hữu cơ của chủ nghĩa lãng mạn(…).
Thứ hai, lí luận phê bình văn học Trung Quốc nên nhìn nhận lại xem chúng ta liệu có phải đã từng hiểu sai, giải thích không đúng về chủ nghĩa lãng mạn, giáo trình lí luận văn học của chúng ta giải thích về chủ nghĩa lãng mạn liệu có phù hợp với thực tế không. Lí lẽ  rất giản đơn, chủ nghĩa lãng mạn thực ra là sản phẩm của văn học và tư tưởng phương Tây, khác biệt lớn với truyền thống văn học và tư tưởng Trung Quốc. Nhưng, mấy chục năm nay, chúng ta đã tiến hành “lí giải” về chủ nghĩa lãng mạn hoàn toàn vì để chúng ta sử dụng, thậm chí coi nó là một “quy luật phổ biến”. Theo chúng tôi nghiên cứu, lí giải của “chúng ta” và lí giải của “họ” khác nhau rất lớn, trong đó có những chỗ đáng phải xem xét lại(*).
Thứ ba, từ thế kỉ 20, dường như tất cả các nhà lí luận và lí luận tự cho mình là “tiên phong”, “tiền vệ”, “phản truyền thống” có thể đều muốn coi chủ nghĩa lãng mạn là khởi tổ của mình? Họ dường như muốn đem tất cả những chủ đề quan trọng truy nguyên về chủ nghĩa lãng mạn? Trong đó, một nguyên nhân chủ yếu là: trong tư tưởng và văn học (bao gồm cả nghệ thuật) phương Tây tính từ thời cận đại, chủ nghĩa lãng mạn đã lần đầu tiên khiêu chiến, chống lại tất cả tư tưởng, quan niệm truyền thống trên quy mô lớn. Quan niệm hạt nhân của nó là chủ nghĩa cá nhân lấy cá thể (“tự nhiên”, “tài năng”) làm cơ sở, sau đó dùng nó làm cơ sở để ra sức theo đuổi nguyên thủy, tự nhiên, trữ tình, cá tính, phản nghịch, thế tục…, và mang đậm sắc thái của chủ nghĩa không tưởng. Có lẽ, những thứ này lại tiêu biểu cho phương diện áp bức và bài trừ mà truyền thống tư tưởng phương Tây trong một thời gian dài phải chịu. Chính chúng đã mang đến sức sống và động lực sáng tạo cho các loại lí luận từ thời hiện đại trở lại đây. Như Philippe Lacoue-Labarthe nói: chủ nghĩa lãng mạn đã mở ra sự truy vấn đối với bản thân văn học, không chỉ truy vấn cái gì là văn học mà còn truy vấn một loạt vấn đề như hư cấu, mô phỏng, lí luận, chủ thể, phong cách. Những truy vấn này, ngày nay vẫn còn đang tiến hành, có lẽ, chỉ cần hoạt động văn học vẫn tồn tại, thì những truy vấn này sẽ vẫn tiếp tục diễn ra.
Nhìn chung, lí luận phê bình văn học phương Tây hướng vào thế kỉ 21 vừa không tồi tệ và sai lầm, cũng không đông cứng như chúng ta tưởng. Nó đang trong quá trình không ngừng diễn biến và phát triển, trong đó có những trường phái “tiên phong” sắc bén, cũng có phái truyền thống bảo thủ, nhưng phần nhiều vẫn là những người đi trên con đường trung gian: họ đã không muốn đi trên con đường cũ mòn của truyền thống lại cũng cảm thấy e dè trước phương hướng mới, cho nên thường chọn con đường thực dụng chủ nghĩa và thực chứng chủ nghĩa, cố gắng trở thành cá thể riêng biệt trong chỉnh thể “đa sắc màu” hoặc “du dân” của cuộc sống “du mục”, đứng vị trí bên lề đối kháng với trung tâm. Ngoài ra, họ vô cùng mẫn cảm với các khuynh hướng mới xuất hiện trong thực tiễn sáng tác, lí luận, phê bình văn học, cố gắng tìm ra trong đó căn cứ có thể đối kháng với hiện thực và sự cũ mòn. Cho dù như thế nào, chúng ta cũng không thể tưởng tượng được nếu cho rằng lí luận phê bình văn học phương Tây hướng vào thế kỉ 21 là những thứ hoàn toàn mới chưa từng có từ trước đến nay, cũng không thể cho rằng chúng hoàn toàn vận hành theo quỹ đạo xưa cũ. Quan trọng là phải quan sát tỉ mỉ để chỉ ra khuynh hướng có giá trị mới trong đó, và tìm ra chất liệu và căn cứ của chúng trong liên hệ giữa lịch sử và hiện thực.
(Nguồn: Diêm Gia,《21世纪西方文学理论和批评走向和问题, đăng trên Nghiên cứu lí luận văn nghệ, số 1, 2007)

Hướng phát triển và những vấn đề của lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ 21 (1)

12612-phuongtay(Tác giả: Diêm Gia – Trung Quốc* ; Đỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung) 

Bài viết này dựa trên tài liệu tiếng Anh, tiến hành độc lập suy nghĩ, nghiên cứu hiện trạng lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại, đồng thời so sánh một số lí thuyết quan trọng với thực trạng lí luận phê bình lí luận văn học Trung Quốc. Bài viết cho rằng: cục diện chung của lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại giống như một “tấm khảm đa màu” (mosaic), “không có trục chính”, là “trạng thái du mục”, nhưng trong đó có thể thấy rõ một số hướng cơ bản, đó là sự cạnh tranh giữa giải cấu trúc và xây dựng cấu trúc, giữa quan niệm phát triển tuyến tính và phát triển phi tuyến tính, giữa khoa học và nhân văn, giữa lí tính và cảm tính, đồng thời tập trung thảo luận vấn đề “truyền thống”, “kinh điển” và “chủ nghĩa lãng mạn”.
I
Lí luận phê bình văn học phương Tây hướng đến thế kỉ 21 sẽ có diện mạo như thế nào? Trên cơ sở thâm nhập nghiên cứu tài liệu gốc, tôi gọi cục diện cơ bản của lí luận phê bình văn học phương Tây hướng vào thế kỉ 21 là “thể phồn tạp” (Mosaicism**). Hàm nghĩa cơ bản của nó là “các phương pháp phê bình và quan điểm lí luận văn học phương Tây đương đại rất hỗn tạp, giữa chúng dường như không hề có quan hệ nội tại, góc nhìn và điểm chú ý của mỗi phương pháp khác nhau, từng phương pháp lại có một vị trí riêng trong khu vườn học thuật, hình thành cục diện “trăm hoa đua nở”. Với bất kì một luận đề hoặc lĩnh vực nào, chúng ta cũng có thể phát hiện ra: tuy vấn đề mà họ quan tâm giống nhau, nhưng lập trường, xuất phát điểm, căn cứ lí luận, phương pháp bàn luận và kết luận đưa ra của họ đều rất khác nhau. Nói một cách khác, cách nhìn của họ đối với cùng một vấn đề là vô cùng “đa nguyên”, hoàn toàn không tìm kiếm sự thống nhất, dường như không có bất kì một chủ âm nào.
Tôi dùng cụm từ “thể phồn tạp” để miêu tả diện mạo lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại là muốn nhấn mạnh các loại lí luận phê bình văn học phương Tây hiện nay không chỉ có đặc trưng phiến đoạn, hỗn tạp, lắp ghép, mà mỗi loại đều muốn thể hiện đặc sắc riêng của mình, muốn trở thành một màu sắc trong “tấm khảm đa màu”, không muốn dung nạp lí thuyết khác, và cũng không muốn bị lí thuyết khác hấp thu. Cục diện mỗi loại đều có sắc màu riêng này chính là đặc trưng điển hình cho việc ra sức theo đuổi “đa nguyên hóa” (plurality) của thời hậu hiện đại, cũng là diện mạo cơ bản của văn hóa và tư tưởng phương Tây đương đại. Bề ngoài, một mặt “thể phồn tạp” của hậu hiện đại dùng “đa nguyên hóa” để đối kháng với “trung tâm hóa”, khống chế, thao túng hình thái ý thức chủ đạo; mặt khác lại thông qua “phiến đoạn hóa” để khẳng định mình không hướng tới kiến tạo hệ thống lí luận đại tự sự, mà chỉ là từ góc độ đặc thù, hoặc thể hiện một quan niệm, hoặc tiến hành hóa giải lí luận truyền thống, thậm chí phá vỡ biên giới khoa học truyền thống, thảo luận một vấn đề “chuyên ngành” nào đó trên bình diện khoa học liên ngành, liên lĩnh vực (ví dụ như vấn đề “giới tính”), kết quả là khiến vấn đề văn học vượt ra ngoài bản thân, thẩm thấu vào những lĩnh vực khác. Nói cách khác, hiện nay chúng ta rất khó tìm thấy vấn đề lí luận văn học hoặc phê bình văn học “thuần túy”.
Nếu như lí luận phê bình văn học truyền thống phương Tây thường có một tuyến chính đại diện cho tư tưởng và hình thái ý thức chủ đạo của thời đại hoặc của thời kì, trở thành tiêu chuẩn của thời đại hoặc thời kì, ví dụ như từ thời chủ nghĩa cổ điển đến chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, đến chủ nghĩa hiện đại, thì sau chủ nghĩa hiện đại, tình trạng này đã một đi không trở lại. Điều thú vị là, Gilles Deleuze và Andrea Guatelli trong Cao nguyên nghìn tầng (Mille plateaux) dùng phương thức đặc thù để miêu tả sự khác biệt giữa tình trạng tri thức truyền thống và tình trạng tri thức hậu hiện đại: “Trong mắt Deleuze và Guatelli, từ Platon trở lại, tư tưởng nhân loại bị thống trị bởi “mô hình hình cây” (cây tri thức), đến nay tình trạng đó không còn nữa. Đối với họ, “tư tưởng không phải là trạng thái hình cây, mà là trạng thái hình rễ cây”. Theo họ, cái mà tư tưởng phương Tây truyền thống tuân theo là “logic hình cây”, tức là nhất nguyên, là logic trung tâm, có tầng bậc, có kết cấu, tuyến tính, nhân quả; còn “logic” hiện đại và hậu hiện đại lại là “hệ thống phi trung tâm”, không có tầng bậc, không có kết cấu, tản mạn, phồn tạp, hoặc gọi là kết cấu “phi kết cấu” của thời hậu hiện đại(…).
(…)Có thể nói, trong thời đại tiêu dùng hậu hiện đại, lí luận phê bình văn học phương Tây rõ ràng đã cáo biệt ngữ cảnh, cục diện cơ bản tiền hiện đại và hiện đại, thoát li mạch phát triển tuyến tính và mạch phát triển theo “hình cây”, thoát khỏi quán tính phát triển theo kiểu luôn có một trào lưu hoặc lí luận chủ đạo chi phối lí luận phê bình văn học, để hướng tới trạng thái “du mục phi trung tâm” hoặc “chủ nghĩa phồn tạp”. Ví dụ, nói riêng lĩnh vực phê bình mới xuất hiện, có phê bình không gian, phê bình thần bí, phê bình vi tính hóa, phê bình sinh thái, phê bình duy vật, phê bình đạo đức; riêng phê bình văn học quan tâm đến vấn đề “thân phận”, có phê bình di dân, phê bình nữ quyền, phê bình siêu giới tính và phê bình về “kẻ khác”… Chúng rõ ràng đã thể hiện ra một trạng thái “du mục phi trung tâm”.
Sự xuất hiện của xu thế này có hai nguyên nhân quan trọng.
Trước hết, nó liên quan đến chuyển hướng cơ bản trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa tư bản từ thế kỉ 20. Kinh tế tư bản chủ nghĩa thế kỉ 20 sau hai cuộc đại chiến thế giới đã xuất hiện sự chuyển biến khác xa so với chủ nghĩa tư bản truyền thống(…). Tiêu biểu cho mô hình sản xuất và mục tiêu của chủ nghĩa tư bản truyền thống là “Fordism” hậu chiến, lấy sản xuất số lượng lớn, tập trung hóa, quy mô lớn làm đặc trưng; nhưng sau những năm 1970, chủ nghĩa tư bản lại chuyển sang “sản xuất linh hoạt và tích lũy”, tức là chuyển tư bản xuyên quốc gia sang các quốc gia có nền kinh tế lạc hậu thuộc thế giới thứ ba, dùng lao động giá trẻ và tài nguyên của các nước thứ ba làm điểm tựa cho việc giảm giá thành sản phẩm, thu được lợi nhuận lớn nhất. Sự chuyển biến của phương thức sản xuất xã hội đi liền với sự thay đổi của hệ thống văn hóa, địa lí: tức là phi trung tâm, phân tán, thu hẹp không gian địa lí, “chủ nghĩa tiêu dùng”, “đa nguyên hóa” về văn hóa. Sự thay đổi hệ thống này trở thành bối cảnh lớn cho sự ra đời của “thể phồn tạp” (Mosaicism)(…).
Tiếp nữa, nó có liên quan đến trào lưu chủ đạo trong văn hóa tư tưởng phương Tây từ thế kỉ 20. Trào lưu chủ đạo đó là: không ngừng phản kháng và giải cấu trúc đối với “truyền thống”, vũ khí chủ yếu của phản kháng và giải cấu trúc là ra sức đề xướng “đa nguyên”, “bản địa”, “biên duyên”, “thiểu số”, “tính khác”…. Biểu hiện rõ nét của phương diện này trên lĩnh vực lí luận phê bình văn học chính là không ngừng xuất hiện các loại “lí luận chung kết” hoặc “lí luận tử vong”, ví dụ dốc sức quan tâm đến một loạt các chủ đề như “cái chết của lí luận”, “cái chết của phê bình”, “cái chết của lịch sử”…. Thực ra, trong hệ thống chủ đề “chung kết” hoặc “tử vong”, chúng ta có thể thấy rõ ý đồ của tác giả. Tuy họ đều muốn phản kháng lí luận, quan niệm lí tính chủ nghĩa, tổng thể hóa, nhất nguyên luận, nhưng bản thân họ vẫn phải xuất phát từ lập trường lí luận để đối kháng hoặc giải cấu trúc một loại lí luận khác, kết quả là không hoàn toàn phủ nhận hoặc giải cấu trúc lí luận và phê bình(…).
Cho nên, đối diện với sự khiêu chiến, phản kháng, giải cấu trúc và lật đổ của lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại, chúng ta cần giữ ý thức lí luận tỉnh táo, tìm hiểu xem thực chất của việc kêu gọi “lí luận chung kết” hoặc “lí luận tử vong” là muốn khiêu chiến phản kháng cái gì, liệu có thực sự triệt để lật đổ, bài trừ bản thân lí luận phê bình văn học, kinh điển, truyền thống hay không. Thực ra, chỉ cần khảo sát tỉ mỉ chúng ta sẽ thấy thực ra họ muốn khiêu chiến và phản kháng một số quan niệm và hệ thống cũ trong truyền thống phê bình lí luận văn học.
(Nguồn: Diêm Gia,《21世纪西方文学理论和批评走向和问题, đăng trên Nghiên cứu lí luận văn nghệ, số 1, 2007)

Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân

adb7c-sinhthaiTóm tắt
Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 Phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên.

Với tư tưởng nòng cốt mới, nguyên tắc mỹ học riêng và đối tượng nghiên cứu riêng, Phê bình sinh thái thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới mẻ, thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng gắn văn chương với vấn đề nhức nhối của toàn cầu.Dẫn luận

Manh nha vào những năm 70 của thế kỷ 20, đến giữa thập niên 90, Phê bình sinh thái đã thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mĩ và lan ra nhiều nước khác trên thế giới. Ở Việt Nam, một điều lạ lùng là sau đổi mới, giới nghiên cứu văn học khá cởi mở trong việc tiếp thu, giới thiệu các lí thuyết văn học phương Tây hiện đương đại, nhưng lại rất thận trọng đối với Phê bình sinh thái. Ngay cả các lí thuyết mới mẻ như Chủ nghĩa lịch sử mới, Chủ nghĩa duy vật văn hóa hay lí thuyết tương đối nhạy cảm như Diễn ngôn quyền lực của Foucault cũng đã được nhắc đến ở Việt Nam, nhưng riêng Phê bình sinh thái lại vắng bóng. Dẫn đến hiện tượng trên, có lẽ, một phần rất lớn bắt nguồn từ chính sự mới mẻ một cách đặc thù của khuynh hướng nghiên cứu này. Thông thường, cách tân rất dễ thu hút sự chú ý, nhưng sự cách tân của Phê bình sinh thái lại có những đặc điểm riêng khiến cho sự phát triển, mở rộng nó gặp không ít trở ngại.

Trong bài viết này, người viết sẽ làm sáng tỏ một số cách tân bản chất của phê bình sinh thái trên phương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẩm mĩ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu; bên cạnh đó cũng lưu tâm đến hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng, phát triển của khuynh hướng nghiên cứu này.

Cách tân về tư tưởng nòng cốt

Lịch sử nghiên cứu văn học gắn liền với sự liên tục ra đời, phát triển và thay thế lẫn nhau của các loại lí thuyết, lí thuyết ra đời sau bao giờ cũng đem đến những cách tân, bổ khuyết cho những gì còn hạn chế của lí thuyết trước, đề xuất nguyên tắc, đối tượng, phương pháp, mục đích nghiên cứu riêng, thế nhưng, dù là Chủ nghĩa hình thức, Chủ nghĩa cấu trúc, Mỹ học tiếp nhận, Phê bình nữ quyền, Chủ nghĩa lịch sử mới, hay Chủ nghĩa duy vật văn hóa… thì chúng vẫn nằm trong ảnh hưởng của tư tưởng “nhân loại trung tâm luận”, vì thế, việc tiếp nhận chúng trở nên thuận lợi hơn. Trong khi đó, Phê bình sinh thái ra đời lại mang theo một tư tưởng nòng cốt khác so với nền tảng tư tưởng đã ngự trị trong lịch sử nhân loại nhiều thế kỷ: đó là lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng. Nhiều thế kỷ qua, nhân loại kiêu hãnh với quan niệm “con người là trung tâm của thế giới”, “con người là tinh hoa của muôn loài”, và coi việc chinh phục tự nhiên như một trong những mục đích vĩ đại, một phương thức khẳng định sức mạnh của mình, khẳng định địa vị của con người trong vũ trụ. Sách vở cổ kim đông tây không ít những dẫn chứng thể hiện tư tưởng đó. Chính vì thế, Phê bình sinh thái đề xuất lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng tư tưởng đã tạo ra một cực tư tưởng khác mà muốn tiếp nhận nó, buộc chúng ta phải thay đổi rất nhiều thứ đã ăn sâu trong tiềm thức mình. Tư tưởng hạt nhân của phê bình sinh thái là Chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái (ecological holism), có nguồn gốc từ quan niệm hài hòa, tương hỗ, hệ thống của sinh thái học, từ tư tưởng sinh thái của Engels, Darwin, từ triết học sinh thái của Heidegger, từ triết học sinh thái chỉnh thể luận đương đại… “Tư tưởng hạt nhân của chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái là coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất; lấy sự có ích hay không có ích đối với việc bảo vệ, duy trì hoàn chỉnh, hài hòa, ổn định, cân bằng sinh hệ thống sinh thái làm thước đo, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kĩ thuật cũng như phương thức sống của nhân loại”. Để tư tưởng này được phổ cập, cũng có nghĩa là để có một nền tảng tư tưởng cho Phê bình sinh thái lan rộng hơn và phát triển hơn không phải chuyện một sớm một chiều. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là các nhà Phê bình sinh thái phản đối vấn đề lợi ích của con người. Họ vẫn tán thành, ủng hộ chủ nghĩa nhân bản khi xử lí các vấn đề xã hội, tôn trọng con người, bảo hộ quyền con người, công bằng, chính nghĩa, họ chỉ phản đối tư tưởng cao ngạo, mù quáng khi nhìn nhận quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi con người là linh hồn của vạn vật và từ đó tùy ý bóc lột tự nhiên, coi việc chiếm đoạt, chà đạp tự nhiên làm phương thức khuếch trương bản thân.

Mang một sứ mệnh mới 

Có lẽ trong lịch sử nghiên cứu văn học chưa từng có một trào lưu nghiên cứu nào mang một sứ mệnh đặc thù như Phê bình sinh thái. Sứ mệnh của Phê bình sinh thái là nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái. Vấn đề sinh thái là vấn đề toàn cầu, đồng bộ ở các nước, không phân chia biên giới, thể chế chính trị, giai tầng xã hội. Mặc dù căn nguyên tư tưởng ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, nhưng nguy cơ sinh thái hiện nay cũng như giải quyết nó là vấn đề chung đòi hỏi cộng đồng các quốc gia cùng góp sức. Nghiên cứu văn học thế giới đã trải qua nhiều lần chuyển trung tâm, như chuyển từ tác giả sang văn bản, người đọc, văn hóa và đến Phê bình sinh thái, mặc dù vẫn tiếp tục xu hướng ngoại hóa trong nghiên cứu văn học nhưng đã mang một sứ mệnh hoàn toàn mới. Mang một sứ mệnh cao cả này, một phần rất lớn là Phê bình sinh thái ra đời không phải từ khát vọng sáng lập lí thuyết mới của các nhà phê bình, cũng không phải xuất phát từ nội bộ nghiên cứu văn học, mà là từ sự thúc đẩy của nguy cơ sinh thái. Không ít người đã dự đoán rằng, hiện nay, nguy cơ lớn nhất mà loài người phải đối mặt là nguy cơ sinh thái, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của trào lưu sinh thái, là thời đại của việc sáng lập văn minh sinh thái. Các nhà phê bình sinh thái ý thức được rằng, văn học nhân loại cần phải có trách nhiệm với nguy cơ này, bởi bản thân văn học cũng là một trong những nguyên nhân văn hóa sâu xa tạo nên nguy cơ đó. Greg Garrad cho rằng: “Vấn đề môi trường không chỉ cần phân tích từ góc độ khoa học, mà còn cần phân tích từ góc độ văn hóa”. Văn học phản sinh thái tiếp tục phát triển cũng sẽ góp phần kéo theo sự tiếp diễn của nguy cơ sinh thái. Bởi vì “chúng ta làm gì đối với sinh thái phụ thuộc vào quan niệm của chúng ta về quan hệ giữa con người và tự nhiên”. Nhà văn, nhà phê bình phải thông qua cải tạo văn học, cải tạo quan niệm văn học để hạn chế mắc lỗi với tự nhiên và thậm chí chuộc lỗi với tự nhiên. W.E.B.Du Bois từng dự đoán: Vấn đề chung rộng lớn của thế kỷ 20 là vấn đề chủng tộc. Đến đầu thế kỷ mới, dấu tích của vấn đề này vẫn không hề phai mờ. Nhưng, còn một vấn đề có lẽ là bức thiết hơn, đó là đối với tuyệt đại đa số cư dân trên địa cầu, nếu như không tiến hành cải cách mạnh mẽ phương thức sống hiện nay, thì trái đất liệu có còn sức sống nữa hay không?.

Như vậy, sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên, đã dẫn đến nguy cơ sinh thái như thế nào. Từ đây có thể thấy, Phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mang đậm tinh thần phê phán văn hóa. Phê bình sinh thái muốn hướng đến cải cách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát triển, xây dựng văn minh sinh thái.

Xây dựng trên nguyên tắc mỹ học riêng

Phê bình sinh thái không chỉ lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng mà còn lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo. Nếu không xác định được nguyên tắc mỹ học riêng, Phê bình sinh thái sẽ không khác gì các hoạt động nghiên cứu môi trường thông thường. Phê bình sinh thái phải “một chân đặt ở địa cầu, một chân đặt ở văn học”. Lý Khánh Bản cho rằng: “Trên cơ sở sinh thái chỉnh thể luận, chủ trương của mĩ học sinh thái là thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, con người và bản thân chứ không phải là con người chiếm hữu, chinh phục và cải tạo tự nhiên, không chủ trương quan điểm lao động sáng tạo ra cái đẹp”.

Trước tiên, thẩm mỹ sinh thái là thẩm mỹ mang tính tự nhiên, nó không phải là sự trừu tượng hóa trên cơ sở kinh nghiệm thẩm mỹ cụ thể, cũng không phải là thông qua đối tượng cụ thể thể hiện tư tưởng tình cảm, nhân cách của chủ thể thẩm mỹ. Trong thẩm mỹ sinh thái không tồn tại quan hệ chủ thể – khách thể, con người cảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẩm mỹ. Mặc dù trong lịch sử mỹ học, cái đẹp tự nhiên vẫn được bàn đến, nhưng phần lớn các nhà tư tưởng đều coi cái đẹp nghệ thuật, cái đẹp trong cuộc sống đẹp hơn cái đẹp tự nhiên. Nếu có thừa nhận, coi trọng cái đẹp tự nhiên thì thường cho nó là sự ngoại hóa của sức mạnh hoặc thế giới tinh thần của con người. Hegel từng cho rằng chỉ có cái đẹp nghệ thuật mới là cái đẹp chân chính. Trong truyền thống, trên cơ sở nền tảng của Chủ nghĩa nhân loại trung tâm, đối tượng thẩm mỹ tự nhiên chỉ được coi là phương tiện, biện pháp, kí hiệu, vật đối ứng, công cụ biểu hiện, ám thị, tượng trưng cho thế giới nội tâm, đặc trưng nhân cách của con người. Các nhà Phê bình sinh thái lại chủ trương, không thể dùng con mắt công cụ, công lợi để đối đãi đối tượng thẩm mỹ tự nhiên. Bài trừ thẩm mỹ công cụ hóa cũng trở thành ranh giới phân chia thẩm mỹ sinh thái và thẩm mỹ phi sinh thái. Bên cạnh đó, thẩm mỹ sinh thái đề cao tính chỉnh thể, không chỉ quan tâm đến đối tượng thẩm mỹ đơn nhất, mà còn đặt nó vào trong hệ thống tự nhiên, từ đó khảo sát ảnh hưởng của nó đối với chỉnh thể sinh thái. Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp của thẩm mỹ sinh thái cũng khác so với truyền thống. Đối với thẩm mỹ sinh thái, cái gì có lợi cho sự ổn định, hài hòa của hệ thống sinh thái mới là Đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn định sinh thái sẽ bị coi là Xấu. Trong mỹ học truyền thống, con người trở thành tiêu chuẩn, thành thước đo, còn đến Phê bình sinh thái, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái. Ngoài ra, thẩm mỹ sinh thái còn đề cao nguyên tắc dung nhập. Thẩm mỹ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấu nhập vào tự nhiên, có lúc, thậm chí còn phải quên đi bản ngã, hòa với tự nhiên làm một. Muốn thực sự dung nhập vào tự nhiên, đặc biệt là muốn trong sự dung nhập đó cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của tự nhiên thì trước hết phải quên đi bản ngã của mình. Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức của thẩm mỹ sinh thái. Con người không thể phát hiện ra hết cái kì diệu của tự nhiên chính vì quá tự cao tự đại, coi tự nhiên chỉ là công cụ nhằm đối tượng hóa bản ngã, chỉ có cảm thụ một cách vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được càng nhiều cái đẹp, cái kì thú của tự nhiên.

Xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng 

Để hình thành một lí thuyết phê bình văn học, một điều không kém phần quan trọng chính là xác định được đối tượng, phạm vi nghiên cứu đặc thù. “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” (Cheryll Cglotfelty). Đối tượng của phê bình sinh thái không phải chỉ là văn học sinh thái, không phải chỉ là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên. Có miêu tả tự nhiên hay không không phải là điều kiện tất yếu để triển khai phê bình sinh thái. Chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, thậm chí, tác phẩm văn học cho dù hoàn toàn không đả động gì đến cảnh vật tự nhiên, mà chỉ bàn đến chính sách phá hoại sinh thái, bàn đến một phương thức sống của xã hội tiêu dùng, một sự kiện ô nhiễm môi trường… đều có thể trở thành đối tượng quan tâm của phê bình sinh thái. Cho nên, dùng góc nhìn sinh thái, có thể khảo sát văn học đông tây kim cổ, đặc biệt là những tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng lớn đến văn minh nhân loại cũng như biến động xã hội; có thể tiến hành đọc lại các tác phẩm trong quá khứ, tìm ra ý nghĩa sinh thái tiềm ẩn trong đó, tất nhiên, cũng bao hàm việc chỉ ra những hạn chế của nó trong tương quan với chỉnh thể sinh thái. Như vậy, sẽ góp phần bổ sung cho những khuyết thiếu trong lịch sử nghiên cứu văn học nhân loại. Chẳng hạn, ngay trong thần thoại, suốt bao nhiêu năm, giảng dạy và nghiên cứu luôn đề cao khát vọng khám phá, chinh phục tự nhiên, nhưng nếu nhìn từ góc độ sinh thái, vấn đề đã trở nên khác biệt.

Cách tân nhưng không phải là vạn năng

Không thể phủ nhận, Phê bình sinh thái ra đời đã mang đến cho nghiên cứu văn học, mỹ học một góc nhìn mới, khai mở một không gian mới, mang đến một động lực phát triển mới, bổ sung cho những khoảng trống trong nghiên cứu văn học từ trước đến nay. Lí luận phê bình văn học đã trải qua nhiều lần chuyển trung tâm nghiên cứu, nhưng quan hệ giữa văn học và tự nhiên vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức, điều này ít nhiều tạo nên sự mất cân bằng trong hệ thống tri thức nghiên cứu văn học. Phê bình sinh thái ra đời đã bổ sung cho những khuyết thiếu trong nghiên cứu văn học trước kia, đồng thời góp phần điều chỉnh cho những thiên lệch trong nghiên cứu văn học đương đại. Nó nhấn thêm một bước trong chuyển động vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu bản thể luận, chuyển sang xã hội, văn hóa, đồng thời cũng hóa giải khuynh hướng kinh viện, thoát li hiện thực, thúc đẩy nghiên cứu văn học “nhập thế” – nhà nghiên cứu không chỉ đơn thuần quan tâm đến học thuật, mà còn cần phải gánh vác trọng trách phê phán văn hóa tư tưởng xã hội, phổ cập ý thức sinh thái, góp phần xây dựng văn minh sinh thái.

Những cách tân, đóng góp của Phê bình sinh thái là không thể phủ nhận, mặc dù có những đột phá nhưng cũng như tất cả các lí thuyết văn học khác, Phê bình sinh thái không phải là vạn năng, không thể bao hàm tất cả nghiên cứu văn học, nó chỉ là một nhánh của nghiên cứu văn học mà thôi. Sự ra đời của nó không có nghĩa là phủ nhận, thay thế và cũng không thể phủ nhận, thay thế các khuynh hướng nghiên cứu khác. Phê bình sinh thái chỉ muốn chứng minh rằng: nguy cơ sinh thái đang là vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan đến sự tồn vong của toàn nhân loại; nhà văn, nhà phê bình cũng nên đóng góp tiếng nói của mình vào việc giải trừ nguy cơ sinh thái.

Kết luận

Với việc hướng tới quan hệ giữa văn học và tự nhiên dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là tư tưởng chỉnh thể sinh thái; làm rõ căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, đồng thời chú ý đến thẩm mỹ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật khác của văn học, Phê bình sinh thái đã tự tạo cho mình một diện mạo mới. Nhưng do sự phổ cập tư tưởng sinh thái cũng như xây dựng văn minh sinh thái vẫn còn dừng lại ở mức độ nhất định; yêu cầu cân đối giữa “nhân loại trung tâm luận” và “sinh thái trung tâm luận” vẫn còn nhiều vấn đề; hơn nữa văn học hàng nghìn năm hầu hết là sản phẩm được sáng tạo trên nền tảng tư tưởng “nhân loại trung tâm luận”, cho nên, sự mở rộng, phát triển của Phê bình sinh thái cũng gặp không ít trở ngại.

Phát triển Phê bình sinh thái ở Việt Nam, bên cạnh những khó khăn chung, còn gặp những khó khăn riêng do hoàn cảnh đặc thù, vì Phê bình sinh thái là một bước tiến dài trong hành trình “ngoại hóa” của nghiên cứu văn học phương Tây, nó ít nhiều có nền tảng trong chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu văn học, trong khi đó, thành tựu của sự chuyển hướng này ở Việt Nam chưa thực sự rõ rệt. Tuy nhiên, nguy cơ sinh thái đang là vấn đề của toàn cầu, trong truyền thống văn học Việt Nam cũng có không ít nhân tố sinh thái… Cho nên, việc phát triển Phê bình sinh thái ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay là cần thiết và có cơ sở.

ĐỖ VĂN HIỂU
(Tạp chí nhà văn,2012)

Sự vận động của văn học Trung Quốc 20 năm qua (1)

                                                                                     Đỗ Văn Hiểu
 văn học trung quốc 20 năm qua
            Văn nghệ Trẻ – 20 năm qua, văn học Trung Quốc đã trải qua nhiều biến động lớn và phát triển tương đối phức tạp. Sự vận động của nó phản ánh sâu sắc những biến động trong đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị và tinh thần của quốc gia rộng lớn đông dân này. Nếu trong thời cách mạng văn học có một bệ đỡ vững chắc là chính trị, sau đổi mới (1978) lại có những ảo tưởng về tác động của công cuộc hiện đại hoá đối với văn học thì sang những năm 90, và đầu thế kỉ mới, văn học đã phát triển dưới một lực tác động khác, đó là cơ chế thị trường, xã hội tiêu dùng và sự sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng. Chính trong những thay đổi gấp gáp đến chóng mặt của thời đại đã khiến văn học văn học Trung Quốc 20 năm qua không ngừng vận động và thể hiện một diện mạo mới, bản chất mới.
1: Văn học Trung Quốc những năm 90
Bước vào thập niên 90, về cơ bản, Trung Quốc đã chuyển đổi một cách toàn diện sang cơ chế thị trường, khuynh hướng giá trị thay đổi, ý thức hàng hoá ngày một tăng, tư duy thị trường hoàn toàn thâm nhập vào từng ngóc ngách trong xã hội, vì thế, quan niệm giá trị mà hình thái ý thức xã hội bị giải thể, đạo đức lí tưởng truyền thống bị mai một. Hiện thực tàn khốc của xã hội hàng hoá phá vỡ ảo tưởng mĩ lệ về hiện đại hoá được khơi ra từ ngày đầu đổi mới của phần tử tri thức, các nhà văn buộc phải nhìn nhận lại hiện thực. Những diễn ngôn quốc gia đại sự dần dần bị thay thế bằng tả thực về cuộc sống sinh tồn, văn học chuyển từ theo đuổi cao thượng chuyển sang quan tâm đến những vấn đề trần tục nhất, tiến vào thời đại diễn ngôn trò chơi tiêu dùng của văn hhoá hàng hoá. So với những năm 80, văn học những năm 90 có những chuyển biến lớn trên cục diện văn học, quan niệm sáng tác, quy chuẩn đạo đức, lựa chọn giá trị…
Cục diện đơn nguyên hoá bị phân tách, xuất hiện cục diện văn học chủ lưu, văn học tinh anh và văn học đại chúng cùng tồn tại, và có xu hướng nghiêng về văn hoá đại chúng. Văn học chủ lưu tập trung trong những sáng tác như “Năm trước năm sau” của Hà Thân, “Trời xanh trên cao” của Lục Thiên Minh, “Chế tạo Trung Quốc” của Chu Mai Sâm… Họ thể hiện quyết tâm giữ gìn văn hoá chính trống và quan niệm giá trị truyền thống, muốn giữ trận địa văn hoá chủ lưu và mang cảm giác sứ mệnh. Nhưng, dưới sự tác động của văn hoá kinh tế thị trường, họ cũng buộc phải điều chỉnh cách viết để hướng về văn hoá đại chúng. Sáng tác tinh anh mặc dù vẫn giữ được vị trí chủ thể của văn học, nhưng sự đối lập giữa lập trường văn học và văn hoá thị trường buộc họ phải chọn con đường hợp lưu với văn học thông tục, lập trường diễn ngôn chính trị dần dần chuyển sang lập trường dân gian. Năm 1993 có thể coi là một năm thể hiện rõ nhất việc văn học hướng đến thị trường: Vương An Ức với “Kí thực và hư cấu”, Vương Mông với “Mùa yêu”, Trương Vĩ với “Ngụ ngôn tháng 9”, đặc biệt là Giả Bình Ao với “Phế đô”. “Phế đô” lúc đầu được đăng dài kì trên “Thập nguyệt”, sau đó được nxb Bắc Kinh xuất bản lần đầu 50 vạn bản, công khai hoặc bán công khai xuất bản 100 vạn bản, in ngoài luồng 1200 vạn bản. Trong khoảnh khắc, khắp nông thôn thành thị đường phố ngõ hẻm chỗ nào cũng thấy “Phế đô”, đây là một hiện tượng hiếm thấy trong văn học Trung Quốc 50 năm qua. Trong thời kì này, hàng loạt những hành vi thương mại như mua bản thảo giá cao, quảng cáo tuyên truyền, bán bản thảo… xuất hiện, cho thấy ý đồ văn học phải nhanh chóng hoà hợp với thị trường. Rất nhiều người công kích “Phế đô” cho rằng tác phẩm là “vô sỉ”, “dung tục”, “thương mại rẻ tiền”. Thế nhưng, sự xuất hiện của “Phế đô” có liên quan mật thiết với sự chuyển biến của thân phận nhà văn trong thời đại kinh tế thị trường. Các “nhà văn chuyên nghiệp” ăn lương nhà nước cấp, ở nhà nhà nước phân đã chuyển sang thân phận “nhà văn bán sách”, “nhà văn kí hợp đồng”. Trước kia Tình dục bị coi là điều cấm kị thì “Phế đô” đã công khai đả phá và biến nó thành đốI tượng mang lại lợi nhuận lớn trong thời đại chuyển đổi. Nói trở thành khởi điểm lịch sử của “tự sự dục vọng” và tiêu dùng văn hoá. Mọi người đều nhìn thấy chính trị lí tưởng không còn là vấn đề hạt nhân của xã hội Trung Quốc nữa, theo đuổi lợi ích mới là lực đẩy số một của xã hội. Trong bối cảnh lịch sử đó, văn học giáo huấn, văn học chỉ đạo không còn chỗ đứng. Các nhà văn đã hướng vào nội bộ phần tử trí thức, chỉ ra những giới hạn của họ, chẳng hạn Vương An Ức cho xuất bản liên tục ba tác phẩm “Câu chuyện của chú”, “Ca sĩ đến từ Nhật Bản”, “Thơ về xã hội lí tưởng” suy nghĩ về sự chuyển đổi thân phận trí thức những năm 90, trong đó “Câu chuyện của chú” chất vấn nghiêm túc mà thống khổ vền những ảo tưởng tập thể của những năm 80. Lúc đó “Con người vì sự sống của bản thân mà sống, chứ không phải bất kì cái gì khác”(Dư Hoa).
Thơ ca được coi là phương thức diễn ngôn điển hình của tầng lớp tri thức tinh anh trong thời đại lí tưởng. Đến cuối những năm 80 văn học bắt đầu đi vào cục diện đa nguyên hoá, thơ ca lại dần dần yếu đi, vấp phải sự lạnh nhạt lớp nhất trong thế kỉ 20. Đến những năm 90 số phận của thơ ca thể hiện sâu sắc nhất sự trắc trở của văn học tinh anh. Thơ vấp phải sự thờ ơ của độc giả, nhà thơ chỉ còn biết than thở với bản thân, đối diện với cô đơn. Văn học thập niên 90 bị tiểu thuyết chiếm giữ phần lớn không gian và thời gian.
Thiếu vắng lí tưởng, tinh thần trống rỗng, quan niệm mĩ học truyền thống bị phá vỡ, ý thức tự giác của văn học mai một là những đặc điểm cấu thành đặc trưng của văn học thời kì chuyển đổi. Văn học cứ như vậy ngày càng đi sâu vào bối cảnh dung tục hoá. Giá trị trung tâm xã hội bị giải thể, ý thức chủ lưu mai một, phần tử tri thức hoang mang, văn hoá tiên phong bị thu hẹp địa bàn, văn hoá đại chúng bùng nổ chiếm giữ vị trí chủ lưu trong đời sống, chủ nghĩa công lợi, chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa hưởng lạc của văn hoá thị trường thao túng người dân  từ vật chất đến tinh thần.Văn hoá đại chúng đã chiếm vị trí đầu trong thị trường văn hoá. Vương Sóc là “người đầu tiên viết kiểu thương mại đương đại của Trung Quốc”, dẫn đầu trong trào lưu sáng tác thương mại hoá. Ông bắt đầu viết từ giữa những năm 80,  đến cuối những năm 90 trở thành một trong những “hiện tượng văn hoá” quan trọng của thập niên, sáng tác của ông chủ yếu tập trung vào những đề tài thông tục như ngôn tình, phạm tội, trinh thám; triệt để hoá giải lí tưởng của thời đại anh hùng, tạo ra hiệu ứng “khoảng cách bằng không” với thị dân.
Truyền thông đại chúng là một hình thức quan trọng của văn hoá đại chúng, sự phát triển của nó khiến văn học từ thành đường thần thánh rơi xuống vị trí bị lợi dụng. Văn học phải dựa vào truyền thông để sinh tồn. Kết quả tất yếu của việc văn học bị kĩ thuật nuốt chửng là việc văn học mất đi tính quyền uy vốn có và địa vị chính tông của văn học truyền thống, khiến cho văn học nhanh chóng bị đóng vài trò của kẻ bên lề. Hành động thương mại và lợi ích kinh doanh đã khiến nhà văn từ bỏ quyền lợi và trách nhiệm bảo hộ tác phẩm của mình, bảo hộ văn học, điều này cho thấy những bàng hoàng, âu lo, thấp thỏm dầu thập niên 90 không còn nữa, chính những lợi ích kinh tế có được khiến họ hoàn toàn thay đổi quan niệm giá trị của tồn tại. Họ chấp nhận sự cải biên của đạo diễn, dù có phải hi sinh nguyên tác. Ví dụ Trương Nghệ Mưu cải biến tác phẩm “Bầy vợ” của Tô Đồng thành “Đèn lồng đỏ treo cao” đã đánh mất ý nghĩa siêu việt trong tiểu thuyết.
Văn học thời kì này đã chuyển từ quan tâm đến hình thức sang quan tâm đến vấn đề đạo đức. Trung hậu kì thập niên 80 các nhà văn không ngừng tìm kiếm tính độc lập của văn học, có xu hướng đi vào thể nghiệm hình thức, thoát li chính trị mà tiêu biểu là các nhà văn Tiên phong. Nhưng sang thập niên 90, hình thái ý thức phai nhạt, thái độ xa rời chính trị của thuần văn học dần dần mất ý nghĩa. Sự xuất hiện rầm rộ của “tự sự dục vọng” “văn học nữ” đã mở ra không gian mới. Một loạt  những nhà văn như Giả Bình Ao, Cách Phi, Hà Đột, Vương Sóc, Chu Văn, Vệ Tuệ, Miên Miên… qua tác phẩm của họ đều thể hiện sự biến dổi trong quan niệm giá trị. Vương Sóc dùng bút pháp châm biếm phơi bày bản chất giả dối, cách mạng, quyền uy, tri thức, ái tình, thanh xuân, nhân sinh, lí tưởng, trút bỏ mặt nạ đạo đức trên những diễn ngôn quyền uy như cách mạng, hiện đại, khai sáng. . Nếu như đầu thập niên 90, lối viết dục vọng còn ít nhiều được che đậy, nhưng đến giữa và cuối thập niên 90, sáng tác của những người trẻ tuổi lại không đơn giản là bộc lộ dục vọng, mà cho thấy quan niệm giá trị và quy phạm đạo đức của họ đã khác rất nhiều so với các nhà văn thế hệ trước. Họ không hề che giấu khao khát đối với vật chất và dục vọng. Chu Văn với “Tôi yêu đô la”, Hàn Đông với “Tam nhân hành”, Hà Đột với “Chúng ta giống hoa hướng dương” đều thể hiện điều đó. Cái họ nhấn mạnh là lối viết cá nhân, viết bản năng, viết dục vọng, viết sinh tồn, cho nên, họ lấy thế tục hoá làm căn cứ, phủ định tất cả mọi thứ được coi là cao thượng, thần thánh.
Cuối thập niên 90, xu hướng thương mại hoá trong sáng tác nữ được một số nhà văn trẻ đẩy lên cao. Vệ Tuệ, Miên Miên dùng chiêu bài lối viết thân thể, lấy ngôn ngữ khác thường và quan niệm giá trị về sự hưởng lạc phóng túng thu được sự chú ý rộng rãi của xã hội. Mặc dù Vệ Tuệ, Miên Miên đã lộ ra rát nhiều nội dung đời sống của nữ giới nhưng họ không bảo vệ cho giới nào, mà bảo vệ đấu tranh cho một phương thức sống mới. Mặc dù sáng tác của họ phần lớn bị văn hoá hàng hoá nuốt chửng, nhưng giống như Vương Sóc, Trần Nhiễm, hành vi phản nghịch của họ phản ánh quá trình đi tìm những chuẩn mực đạo đức mới của tầng lớp thanh niên trong thời đại mà giá trị đang đổi thay.
(Tổng hợp từ tài liệu tiếng Trung Quốc)
Văn nghệ Trẻ

Sự vận động của văn học Trung Quốc 20 năm qua (2)

văn học trung quốc 20 năm qua2: Văn học Trung Quốc đầu thế kỉ mới
Văn nghệ Trẻ : Sang thế kỉ mới, kinh tế thị trường đã đi vào ổn định, phương tiện truyền thông phát triển mạnh, đặc biệt là sự phổ cập của internet, nhà văn tìm được sự thích ứng với không khí của thời đại tiêu dùng…Tất cả những điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến sáng tác khiến văn học thế kỉ mới trình diện một diện mạo riêng.
Về lĩnh vực tiểu thuyết. Tiểu thuyết thế kỉ mới có sự kế thừa tiếp nối của tiểu thuyết những năm 80, 90 như tiểu thuyết vết thương, phản tư, tả thực mới, tiên phong, tân lịch sử…Tuy nhiên, không thể phủ nhận những nét mới của tiểu thuyết Trung Quốc khi bước sang thể kỉ 21. Nó không có cái hiệu quả xã hội mạnh mẽ của những năm 80,  cũng không có cái cô tịch khi bị đẩy ra bên lề văn hoá như những năm 90, mà trở về với quá trình phù hợp với quy luật phát triển tự thân, quay trở về với địa vị xã hội thực tế của mình. Tiểu thuyết nói riêng, văn học nói chung của thời kì này bắt đầu tìm được cách thích ứng, hoà hợp với thị trường. Cũng trong quan hệ đó đã định vị lại quan hệ thanh-tục, ngày càng xoá nhoà ranh giới giữa đại chúng và tinh anh. Trong các thể loại văn học của thế kỉ mới, tiểu thuyết vẫn dựa trên ưu thế tự sự của mình trở thành thể loại chủ đạo.  Tiểu thuyết thế kỉ mới có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Thân phận của người  sáng tác có khuynh hướng đa cực hoá, thể hiện sự phân hoá rõ ràng trên quan niệm văn học và  giá trị trị thẩm mĩ mà họ theo đuổi. Cùng với sự  thay đổi của phương thức sản xuất và phương thức truyền bá, thân phận, tuổi tác trình độ chuyên nghiệp của người viết đều có nội hàm rộng rãi hơn so với thế kỉ trước, tỉ trọng nhà văn nghiệp dư tăng cao, những người viết trên mạng và tự do soạn thảo cũng trở thành đội ngũ sáng tác quan trọng.
Đây cũng hiển nhiên dẫn đến sự phân hoá trong quan niệm văn học và theo đuổi thẩm mĩ, rất nhiều nhà văn trong nội dung thể nghiệm, trong phương thức nhận thức và trên khuynh hướng giá trị khác so với đội ngũ tiểu thuyết gia của thế kỉ trước vốn được mệnh danh là tiên phong, trào lưu mới. Vì có sự ủng hộ của phương thức vật chất truyền thông, tiểu thuyết đề tài hiện thực có không gian sáng tác rộng hơn trước kia; tiểu thuyết nữ quyền phổ biến chuyển từ nhấn mạnh sự khác biệt giới tính sang sự hài hoà cân bằng giới tính; sáng tác trên mạng cũng tìm được cơ hội đi từ mạng xuống hiện thực thông qua con đường xuất bản; tiểu thuyết tiến thêm một bước điều chỉnh đặc tính biên duyên so với diễn ngôn quyền lực trung tâm chính trị, trở về địa vị chính đáng phù hợp hơn với  quy luật tự thân của nghệ thuật.
So với thập niên 80, 90, đặc biệt là trên thái độ đối với lịch sử và trên phương thức tự sự về đời sống thường nhận có sự thay đổi từ góc độ sách lược. Thái độ của tiểu thuyết thế kỉ mới đối với lịch sử/thời gian có sự thay đổi mang tính lật đổ. Trước hết là giải cấu quan niệm thời gian của các nhà văn 8x, giống như sự chân thực trong trò chơi phản khủng bố – chân thực đến cực điểm-  thao tác thành thục của rất nhiều nhà văn 8x là một “ảo thành”. Khái niệm thời gian trên ý nghĩ hiện thực không có ý nghĩa gò bó bên trong đối với những tác phẩm kiểu như thế, nó chỉ thuộc về thời đại internet, thời đại trò chơi điện tử, là sự tồn tại của thời gian, không gian bất kì lúc nào, bất kì đâu cũng có thể phát sinh. Kì thực, thay đổi thái độ đối với lịch sử còn thể hiện sâu sắc ở trong văn bản có tính hiện thực mạnh mẽ. “Thánh nhân” của Tiền Ninh, “Kẻ hạnh phúc” của Vương Vu… về thái độ đối với lịch sử/ thời gian rõ ràng giảm đi nhiều sắc thái hư vô trên phương thức tự sự của chủ nghĩa tân lịch sử, chuyển sang quan tâm đến việc xây dựng lại lịch sử.
Trên phương diện tự sự về cái hằng ngày, tiểu thuyết thế kỉ mới đã nhập vào đời sống mà “tả thực mới ” và “tân hiện thực chủ nghĩa” không có cơ hội biểu đạt. Làm thế nào để tự thuật lại trạng thái bình thường, khác thường của cuộc sống là mục tiêu chung của tiểu thuyết thế kỉ mới, các nhà văn suy nghĩ về những thứ dục niệm của con người, áp lực của cuộc sống, nhược điểm và sự phức tạp của nhân sinh… Nó không còn là sự ghi chép nguyên si của “tân tả thực” nữa mà đạt đến cao độ mới trong việc thẩm mĩ hoá tự sự thường nhật. “Hai tuần rưỡi yêu em” của Từ Khôn, “Nói với Lao La anh yêu em” của Đường Dĩnh, “Hai ba chuyện về bạn học nữ” của Tô Đồng đều là điển hình như vậy, còn “Tần Xoang” của Giả Bình Ao đã mang phong cách khác của sáng tác chủ nghĩa hiện thực thế kỉ mới. Ông chú trọng đưa vào trong cùng một tác phẩm tính hiện đại hiện thực và tính hàm súc truyền thống. Ngoài ra, trong một loạt tác phẩm truyện vừa của Tất Phi Vũ như “Ngọc Mễ”, “Ngọc Tú”, “Ngọc Ương” lại quan tâm đến lập trường dân gian trên phương diện trần thuật.
Các nhà văn 8x, tiểu thuyết mạng đã tạo nên thể nghiệm văn học và không gian mới. “8x” thể hiện tâm thế viết hoàn toàn khác so với truyền thống, trở thành nét riêng biệt của thế kỉ mới. Với tư cách là một quần thể sáng tác của những người trẻ tuổi, sự xuất hiện của 8x cho thấy văn học sử do tạp chí, hiệp hội và các nhà phê bình chủ lưu xây dựng đã bị đột phá. Phần lớn họ phản nghịch, loại khác (linglei), rất có năng lực biểu đạt ngôn ngữ , có trí tưởng tượng phong phú và tư tưởng và cá tính sáng tạo độc lập.  Có thể nói, nhà văn 8x từng bị văn học sử bỏ ra ngoài tầm ngắm, nhưng cùng với sự thành công của tác giả và tác phẩm của họ Hàn Hàn, Quách Kính Minh, Trương Duyệt Nhiên, “ngủ hổ tướng của phái thực lực”…, 8x đã tiến vào phạm vi của văn học sử, thậm chí có kênh thông tin đã nói rằng văn đàn năm 2004 thuộc về các nhà văn 8x. Cho dù mở ra một phương thức sáng tác và một không gian văn học, nhưng cần phải nhìn thấy, sáng tác của 8x vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, ví dụ không hề có được tác phẩm có trọng lượng,  làm thế nào trong sáng tác vứt bỏ được những nông cạn, ấu trĩ. Tác phẩm tiêu biểu của 8x có : “Tam trùng môn”,”Âm một độ” của Hàn Hàn, “Ảo thành”, “Bao nhiêu hoa rơi trong mộng” của Quách Kính Minh, “Hoa đào xa xôi”, “Hoa hướng dương tiêu biến vào năm 1890”, “Mười yêu” của Trương Duyệt Nhiên.
Sự sống dậy của tiểu thuyết mạng là ví dụ điển hình của việc kĩ thuật công nghệ ảnh hưởng đến văn học. Internet vào Trung Quốc từ thập niên 90 nhưng văn học mạng thực sự xuất hiện vào năm 1999. Với tư cách là một hình thái văn học mới, văn học mạng đã có vai trò mang tính lật đổ với phương thức sản xuất và truyền bá văn học truyền thống. “Thảo dương niên hoa” của Tôn Duệ, “Lí công đại phong lưu vãng sự” của Trương Thao, “Ngày tốt nghiệp chúng ta cùng thất tình” của Hà Viên Ngoại, “Tiểu thuyết đêm hoa hồng thời đại internet” của Thái Tri Hằng, “Thành Đô, đêm nay xin hãy quên tôi đi” của Mộ Dung Tuyết Thôn đều có ảnh hưởng lớn trong độc giả, trở thành một bộ phận cấu thành không thể xem nhẹ của tiểu thuyết thế kỉ mới.
 Tiểu thuyết thế kỉ mới đã gặt hái được chiến tích đáng tự hào. Tiểu thuyết “Tần Xoang” của Giả Bình Ao, “Phong nhã tụng”, “Thụ hoạt”, “Đinh Trang Mộng”, “Tứ thư” của Diêm Liên Khoa, “Vô tự” của Trương Khiết, “Ám thị” của Hàn Thiếu Công, “Hành trình hoang vắng” của Hà Đột, “Trái tim chúng ta mới ngoan cố làm sao” của Hiệp Triệu Ngôn, “Nhân diện đào hoa” của Cách Phi, “Bạch đậu” của Đổng Lập Bột, “Kiên ngạnh như thuỷ” của Diêm Liên Khoa, “Đàn hương hình” của Mạc Ngôn, “Thời đại anh hùng” của Liễu Kiến Vĩ… Còn một loạt tiểu thuyểt thể hiện nữ tính như “Thanh ly” của Vương Mông, “Phú Bình”, “Đào chi yêu yêu” của Vương An Ức, “Tiếp tục sống” và “Hoả Trạch” của Thịnh Khả Dĩ, “Người đàn bà tắm” của Thiết Ngưng… Nói chung, số lượng phong phú, đề tài thể hiện xu thế đa dạng hoá, đây là sự tiếp nối của tiểu thuyết những năm 90; nhưng xét về hiệu hứng, tiểu thuyết thế kỉ mới thiếu những tác phẩm gây hiệu quả lớn làm rung động xã hội, và chưa thể có được sức công kích văn hoá xã hội như tiểu thuyết cuối thế kỉ trước tạo ra. Về tổng thể vẫn giữ được sự ổn định đi lên.
Về phương diện thơ ca, Thế kỉ mới thơ ca quả thật có một màu sắc mới. Thơ ca thế kỉ mới là sự tiếp tục phát triển của thơ ca những năm 90 của thể kỉ 20. Những năm cuối của thập niên 90, cuộc tranh luận “Bàn phong thi hội” trở thành khởi điểm lịch sử của thơ ca thế kỉ mới, cuộc giao tranh giữa hai trận tuyến thơ ca lớn  là “dân gian” và “phần tử trí thức” mang đến thời cơ cho sự bùng lên của quần thể thơ ca mới. Sự phổ biến của internet và sự hưng thịnh của tạp chí dân gian thơ ca là diễn đàn giao lưu tốt cho sự truyền bá thơ ca, trong bối cảnh văn hoá mà thơ ca ngày càng bị đẩy ra bên lề, thế kỉ mới đến làm cho thi đàn vốn trầm lắng được bùng lên sôi động trở lại. Sự phồn vinh của thơ ca trong thế kỉ mới được biểu hiện ở một số phương diện sau:
Tạp chí dân gian thơ ca và website trở thành nơi chuyển tải thơ ca chủ yếu. Theo thống kê năm 2004 những cơ sở xuất bản thơ ca dân gian có tới hơn 200, năm 2005 website thơ ca có hơn 250…Tạp chí thơ ca dân gian và website thơ ca thúc đẩy nhau phát triển. Có người cho rằng thơ ca Trung Quốc tiến vào “thời đại sáng tác của tạp chí dân gian”, hoặc “thời đại sáng tác của truyền thông”, tạp san thơ ca dân gian không lưu hành trên thị trường, chỉ là chỉ là sự tặng lẫn nhau giữa những bạn thơ, tạp chí mạng, diễn đàn thơ ca về cơ bản không thể bán lấy tiền, nhưng lại có môi trường phát biểu tự do, đăng tải  không ít những thơ ca chất lượng cao. Tác phẩm trong tạp san dân gian và “thơ ca mạng” cũng bắt đầu xuất hiện trên những ấn phẩm thơ ca chính thức. Internet và tạp san dân gian trở thành phương thức chủ yếu tập kết quần thể thi nhân của thế kỉ mới. Năm 2005 dân cư mạng của Trung Quốc lên tới 1.11 tỉ, cho thấy sức lan toả khi phát tán trên mạng là rất lớn. Sáng tác trên mạng hoàn toàn khác so với môi trường sáng tác trên giấy, tự do hơn, tuỳ tiện hơn…thể hiện chân thực hơn cái tôi của nhà thơ, nhưng mặt trái của nó cũng là sự thô tục, bệnh nhổ nước bọt bừa bãi.
Sự xuất hiện trở lại của thi nhân. Tinh thần thơ ca vào cuối những năm 80 bị khiêu chiến chưa từng thấy, âm thanh “nhà thơ chết đói” lúc nào cũng ám ảnh nhà thơ. “Thi nhân mông lung” hồi đó phần lớn đều biến mất trên thi đàn, “thi nhân của thế hệ thứ 3” sau khi giải cấu mệnh đề “cao thượng”, “lí tưởng”, “trách nhiệm”, “trầm trọng”… của “thi nhân mông lung” phần lớn cũng không sáng tác nữa, họ hoặc là làm kinh tế, hoặc là làm sản nghiệp văn hoá, sống cuộc sống nhàn nhã sung túc. Nhưng sau khi cuộc sống vật chất đã được thoả mãn, họ vẫn không hề quên thơ ca, đầu thế kỉ 20 phần lớn nhà thơ sau những thăng trầm đã lại xuất hiện trên thi đàn như Bắc Đảo , Lý Á , Thư Đình …
Thơ về phần dưới cơ thể. Đầu thế kỉ mới, những nhà thơ 7x xuất hiện nổi bật trong giao tranh giữa sáng tác dân gian và sáng tác của phần tử trí thức, năm 2000, Thầm Hạo Ba, Lí Hồng Kì, Đoá Ngư, Doãn Lệ Xuyên đã lấy tạp san dân gian “Phần dưới cơ thể”  và website “Giang hồ thơ” làm trận địa, chủ trương “lối viết phần dưới cơ thể”, trở thành sự kiện thơ ca nổi bật nhất của đầu thế kỉ mới. Chủ trương thi học của thơ ca “Phần dưới cơ thể là “trạng thái dán chặt lấy xác thịt của sáng tác thơ ca”, “cái họ theo đuổi là cảm giác hiện trường nhục thể”(Thẩm Hạo Ba), thơ ca của họ tràn đầy ý vị nhục dục, ngôn ngữ khẩu ngữ hoá một cách tuyệt đối, thiếu hàm súc, thiếu thi ý. Thơ ca “Phần dưới cơ thể” mang đặc điểm thơ ca mạng rất điển hình, tâm thế viết giấu mình của website mang đến ý vị “Cacnavan”, “mang mặt nạ” của không ít bài thơ.
Thơ ca của người làm thuê” nổi lên.Sự xuất hiện của “thơ ca của  người làm thuê” cũng là một một nét trên thi đàn thế kỉ mới, nó là thơ ca do những người công nhân bốc vác dưới đáy viết, mang những thể nghiệm mãnh liệt về cuộc sống dưới đáy  và lập trường của kẻ yếu. Cống hiến của “Thơ ca của người làm thuê” ở chỗ nó là âm thanh được phát ra từ hơn 1 tỉ người nông dân công nhân đại lục, mà trước kia quần thể này bị chi đậy hoặc bị coi thường. Phần lớn tác giả của “thơ của những người làm thuê” đến từ đáy cùng xã hội, đẳng cấp văn hoá tương đối thấp. Nhân vật tiêu biểu có Tạ Xương Nam, Liễu Đông Vũ, Hứa Cường, La Viễn Đức, Trương Thủ Cương, Lưu Xuân, Trịnh Tiểu Quỳnh, An Thạch Lựu, Hà Chân Tông…Chủ đề thường gặp của loại thơ này là: nỗi sầu quê hương, khốn khổ, gian nan, phiêu bạt, băn khoăn, ưu tư dục vọng, đấu tranh… Thơ của họ thường nghệ thuật không cao, phần lớn thô ráp, nhưng có thể nghiệm cuộc sống xác thực và những trải nghiệm vất vả, nên có những chi tiết cảm động, có sự cảm nhận sinh động mới mẻ về cuộc sống, có nỗi đau do cuộc đời dày vò, đầy day dứt, tất nhiên cũng có những câu thơ, bài thơ tinh tế.
Nhóm những nhà thơ được gọi là “thế hệ trung gian”. “Thế hệ trung gian” chỉ “lớp nhà thơ sinh ra vào những năm 60 của thế kỉ, cuối thập niên 80 xuất hiện trên thi đàn và trở thành lực lượng trung kiên của giới thơ ca Trung Quốc từ thập niên 90 trở lại đây, bao gồm: Y Sa, Tang Đệ, An Kì, Chu Chu, Từ Giang… . Những nhà thơ của “thế hệ trung gian” trên tổng thể có nét đặc sắc, họ vừa không giống với “thi nhân mông lung” cũng không giống với “thi nhân thế hệ thứ3”. “Thế hệ trung gian” không phải là tên của một trường phái, đội ngũ phức tạp, khác biệt tương đối lớn, không có chủ trương lí luận riêng.
Sự nhiệt náo của thơ ca chủ yếu vẫn là việc trong nội bộ thi đàn, viết thơ trở thành hoạt động tinh thần tự do hơn. Thơ ca trên mạng và tạp chí dân gian phần lớn vẫn không thể bán lấy tiền, cái gọi là sáng tác “bên lề thể chế” phần lớn là giao lưu giữa các nhân sĩ trong cùng lĩnh vực, giữa những người viết thơ, tham gia luận chiến, nhiều hơn cả là những người thích thơ thực sự và nghiên cứu nghệ thuật thơ. Trên ý nghĩa này, sáng tác thơ ca thế kỉ mới càng gần hơn với bản chất của nghệ thuật.
Nhìn chung, trong hai thập niên qua, văn học Trung Quốc phát triển dưới áp lực của kinh tế thị trường, trong sự tác động nhiều chiều của phương tiện truyền thông, và bối cảnh toàn cầu hoá. Vì thế, nó có xu hướng tìm cách thích ứng với cơ chế thương mại hoá văn hoá, xoá nhoà ranh giới thanh – tục, tận lực khai thác thế mạnh của truyền thông, cố gắng tìm một vị trí xứng đáng trên sân chơi văn hoá.
                       Đỗ Văn Hiểu
        
       (Tổng hợp từ tài liệu tiếng Trung)
1.      Trình Quang Vĩ: Tổng quan về 60 năm văn học đương đại, Văn nghệ tranh minh, số 10 năm 2009
2.      Đinh Phàm…, Đối thoại về trào lưu văn học những năm 80, 90 của thế kỉ 20. Tạp chí khoa học học viện hành chính Giang Tô, số 4 năm 2001
3.      Vương Vạn Sâm…(chủ biên), 50 năm văn học đương đại Trung Quốc, Nxb Đại học Hải Dương Trung Quốc, 2006
4.      Lưu Chiêu, Bàn về đặc trưng văn học thập niên 90, Tạp chí khoa học học viện sư phạm Trường Xuân, số 2 năm 2004
5.      Cát Hồng Binh, Phê phán tổng thể văn học Trung Quốc thập niên 90 của thế kỉ 20, Tạp chí Khoa học xã hội, số 5 năm 2012
6.      Trình Bồi Anh, Sơ lược về đặc trưng sáng tác của nhà văn nữ đương đại Trung Quốc, Tạp chí khoa học trường cao đẳng sư phạm Bảo Sơn, số 6 năm 2009

Phê bình sinh thái – Cội nguồn và sự phát triển (2)

                                                                                          II
phê bình sinh tháiPhê bình sinh thái có cội nguồn tư tưởng sâu xa. Cho dù trên tổng thể, tư tưởng  văn hóa chủ lưu của phương Tây là chủ nghĩa nhân loại trung tâm và tư tưởng chinh phục, khống chế, cải tạo tự nhiên (tổng kết một cách có hệ thống và phê bình những tư tưởng này là nhiệm vụ chủ yếu của phê phán văn hóa mà phê bình sinh thái tiến hành), nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy rất nhiều những luận bàn về tư tưởng triết học sinh thái. Những bàn luận này trước kia bị chúng chúng ta coi nhẹ, nhưng ngày nay lại trở thành cơ sở tư  tưởng quý giá của phê bình sinh thái.
Từ cổ đại Hi La đến thời văn nghệ Phục hưng, văn minh phương Tây cuối cùng xác lập giá trị cao quý của con người và địa vị trung tâm của con người trong tự nhiên: con người là “thước đo của vạn vật”(Protagoras), “linh hồn của vạn vật”(Shakespeare); mà vạn vật không chỉ “tồn tại vì con người” (Aristotle) mà còn “trở thành nô lệ của con người”(Bacon). Nhưng, chúng ta nghe được một số thanh âm khác nhau: nhà triết học cổ đại Hi La cho rằng  “mục đích của nhân sinh là chung sống hài hòa với tự nhiên”[i]. Triết gia cổ đại La Mã Cicero nhấn mạnh tôn trọng hơn nữa tất cả các sinh mệnh, vì “động vật và con người giống nhau, đều cần có tôn nghiêm của sinh mệnh, không nên bị tổn hại”. Học giả chủ nghĩa nhân văn thời kì văn nghệ Phục Hưng Qiesapiernuo đề xuất một cách rõ ràng cần phải tôn trọng vạn vật tự nhiên, vì “trong giới tự nhiên không có gì đáng căm ghét, ngay cả sinh vật bé nhỏ nhất cũng có giá trị thần thánh của riêng mình”.  Một học giả nhân văn khác Tecaixiao trong công trình Bàn về khởi nguồn của tính vật kịch liệt đả kích hệ thống tư tưởng lấy con người làm cơ sở mà những người cùng thời đã xây dựng, cho rằng họ không những không tôn trọng và làm theo quy luật của đại tự nhiên, hơn nữa còn chà đạp thô bạo lên tự nhiên. “Họ quá tự tin vào bản thân, không hề nghĩ chút nào đến trạng thái của bản thân sự vật và sức mạnh của chúng”. Ông cảnh cáo nhân loại: nếu như “không hiểu điều kiện của sinh tồn mà chúng ta phải dựa vào và lực lượng làm mình suy vong, cho dù chúng ta ôm ấp ước vọng sinh tồn mãnh liệt, thì chết chóc cũng sẽ là đương nhiên”[ii]. Vinci đã đả kích như thế này về việc nhân loại bạo hành tự nhiên: “Nhân loại thật sự không hổ thẹn là vua của muôn loài, vì sự tàn bạo của họ vượt qua tất cả cầm thú. Chúng ta dựa vào cái chết của động vật khác để sinh tồn, chúng ta thực là nấm mồ của vạn vật… Sẽ có một ngày, mọi người sẽ giống như tôi, coi giết động vật cũng tàn bạo như giết đồng loại”[iii].
Thế kỉ 18-19, cùng với sự đề xướng trào lưu triết học hướng về tự nhiên và sự hưng khởi của văn học chủ nghĩa lãng mạn, trong lịch sử văn minh phương Tây, thời kì phồn vinh đầu tiên của tư tưởng sinh thái đã đến. Ý thức trở về với tự nhiên và cùng với chung sống hài hòa vạn vật tự nhiên thậm chí trở thành tư tưởng chủ lưu. Nhà văn chủ nghĩa lãng mạn có cống hiến cực lớn đối với sự hình thành của trào lưu này. Novalis coi đại tự nhiên là “sự tồn tại khác của linh hồn”, đả kích mãnh liệt văn minh công nghiệp thù địch với tự nhiên, gọi nó là “cuộc chiến tranh hủy diệt kéo dài được tính toán một cách cẩn kĩ lưỡng mà nhân loại tiến hành với đại tự nhiên”[iv]. Nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa Đức Achim von Arnim từng chất vấn: “Cổ thụ đi đâu rồi? hôm qua chúng ta vẫn còn ngồi dưới nó; còn có kí hiệu nguyên thủy giới hạn cố định nữa! Sao vậy? xảy ra chuyện gì thế? Người dân dường như quên mất chúng rồi”. Trả lời điều đó, nhà văn lãng mạn Pháp Chateaubriand nói: “Rừng sâu có trước các dân tộc, sa mạc đến sau con người”[v]. Làm thế nào để tránh được việc nhân loại sau khi hủy diệt tự nhiên cũng sẽ hủy diệt bản thân? Hugo cho rằng, việc cần kíp nhất trước mắt là cần xây dựng quan hệ đạo đức hài hòa giữa con người và tự nhiên. Ông nói “con người và con người nên đối đãi một cách văn minh với nhau, điều này đã tương đối tiến bộ rồi; sau đó con người cũng nên đối đãi một cách văn minh với tự nhiên, nhưng điều này cho đến nay vẫn là một khổng trống rỗng”[vi]. Thoreau được coi là nhà văn sinh thái vĩ đại nhất của thời đại lãng mạn chủ nghĩa. Ông không tán thành việc lấy con người làm gốc trong việc đối xử với tự nhiên, ông quyết liệt phản đối dựa vào khoa học kĩ thuật quấy nhiễu tự nhiên và thống trị tự nhiên. Những tác phẩm của ông đều “vì con người thể hiện sự tồn tại của tự nhiên bên ngoài nhân loại, nó là sự tồn tại chủ yếu, là sự tồn tại vượt len trên bất kì thành viên của nhân loại”[vii]. Thoreau cho rằng sự tồn tại đó có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại của nhân loại, có lúc ông dứt khoát dùng chữ “hoang dã” (wilderness) để gọi sự tồn tại đó, và nói “chỉ có trong hoang dã mới có thể bảo hộ được thế giới này”.  Giống như các nhà văn lãng mạn khác, Thoreau cũng nhấn mạnh nhân loại nên sùng bái tự nhiên, sự sùng bái tự nhiên ở mức cao này không chỉ có thể cứu vớt tự nhiên mà còn có thể cứ vớt bản thân nhân loại: “Con người có thể thái độ sùng bái chân chính đối với cây cối và đá sỏi, đó chính là sự sống mới của nhân loại”[viii]. Schopenhauer đặc biệt nhấn mạnh đạo đức luân lí của con người đối với tự nhiên. Ông chỉ ra: “Luân lí Kito giáo không nghĩ đến động vật… Mọi người đều cho rằng động vật không có quyền lợi, họ nói với bản thân, tất cả những gì con người làm đối với động vật không liên quan gì đến vấn đề đạo đức… Điều này quả thật là luận điệu dã man do con người tạo ra”[ix]. Nietzsche lại chỉ ra, con người “căn bản không phải là quán quân của vạn vật: mỗi loài sinh vật đều bình đẳng với các loài vật khác”[x]Biện chứng pháp tự nhiên của Engel có thể coi là kiệt tác bàn về quan hệ giữa con người và tự nhiên, sau đó những tư tưởng sâu sắc nhất trong kiệt tác này bất luận là chiến tuyến chủ nghĩa tư bản phương tây hay chiến tuyến chủ nghĩa xã hội phương Đông đều không coi trọng đúng mức: “Chúng ta tất yếu phải từng bước ghi nhớ: chúng ta thống trị giới tự nhiên, quyết không giống như kẻ chinh phục thống trị các dân tộc khác, quyết không giống như  một cá nhân nào đó đứng ngoài tự nhiên – ngược lại, đến máu thịt, cân não của chúng ta đều thuộc về giới tự nhiên và tồn tại trong đó; toàn bộ sự sức mạnh chi phối của chúng ta đối với tự nhiên chính là chúng ta mạnh hơn tất cả các sinh vật khác, có thể nhận thức và vận dụng chính xác quy luật tự nhiên”. Tiến thêm một bước nữa, ông nói, “chúng ta không nên quá say sưa với thắng lợi của nhân loại đối với giới tự nhiên. Đối với mỗi lần thắng lợi như vậy, giới tự nhiên đều sẽ báo thù chúng ta. Mỗi lần thắng lợi, ở tuyến đầu tiên đều xác thực đạt được kết quả mà chúng ta dự định, nhưng ở tuyến thứ 2 và thứ 3 lại có ảnh hưởng hoàn toàn khác, ngoài dự dịnh của con người, nó thường thường làm cho kết quả ở tuyến đầu tiêu biến”[xi]. Engel không hề phủ nhận sự khống chế, lợi dụng tự nhiên, nhưng trên thực tế đã dùng mệnh đề nổi tiếng “một lần thắng lợi hai lần thất bại” cảnh báo: nhân loại không thể chinh phục đại tự nhiên, nếu không, chỉ tự chuốc họa vào thân.
Các nhà sinh vật học thế kỉ 18-19 đã có những cống hiến vĩ đại đối với tư tưởng sinh thái của nhân loại. Nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đề xuất thuyết “thể chung của tự nhiên” và trật tự tự nhiên, rất coi trọng quan hệ tương hỗ giữa vạn vật tự nhiên. Các nhà khoa học thuộc phái Linnaeus đề xuất thuật ngữ nổi tiếng “dây xích sinh vật” (chain of being), chỉ ra “trong bất kì tình huống nào, nếu như một mắt xích của dây xích tự nhiên bị đắt đoạn thì sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn không có trật tự của chỉnh thể”[xii]. Năm 1866, thuật ngữ “sinh vật học”(Oecologie) do nhà khoa học người Đức Haeckel lần đầu tiên đề xuất, (sau đó biến thành oecology, cuối cùng mới biến thành ecology). Theo Haeckel giới định, sinh thái học là “khoa học nghiên cứu quan hệ giữa sinh vật và thế giới bên ngoài của nó”[xiii]. Thuyết tiến hóa của Darwin có vai trò thúc đẩy không nhỏ đối với sự phát triển của tư tưởng triết học sinh thái. Phát hiện ra quan hệ mật thiết giữa con người với các sinh vật khác, đã phá vỡ tham vọng hoang đường con người thoát li khỏi sinh vật khác đứng cao hơn tất cả, thúc đẩy con người xây dựng ý thức tất cả các sinh vật đều có quan hệ huyết thống, thấy rằng nhân loại và các sinh vật khác có cùng nguồn gốc trên ý nghĩa sinh vật học, tiếp đó thúc đẩy con người mở rộng luân lí của nhân loại đến tất cả các sinh vật, đem sự quan tâm của con người mở rộng đến tất cả các sinh mệnh khác. Nhà tiểu thuyết Anh thế kỉ 19 Hardy đã nhìn ra ý nghĩa của học thuyết này một cách vô cùng rõ ràng. Ông trình nói: “Xem ra chỉ có rất ít người nhận thấy, xác lập ảnh hưởng sâu xa nhất của học thuyết khởi nguyên về cộng đồng vật chủng là ở lĩnh vực đạo đức …”[xiv].
Tư tưởng luân lí sinh thái nửa đầu thế kỉ 20 có thể coi là nguồn gốc tinh thần trực tiếp nhất của phê bình sinh thái, trong đó quan trọng nhất là luân lí “kính trọng sinh mệnh” của Schweitzer và “luân lí địa cầu” của Leopold. Schweitzer cho rằng, sự đồng tình của nhân loại nếu “không chỉ liên quan đến con người, mà còn bao gồm tất cả sinh mệnh, đó chính là luân lí có độ rộng và độ sâu chân chính”[xv]. Albert Einstein cũng tán thành quan niệm luân lí rộng lớn này, ông chỉ ra “nhân loại vốn là một bộ phận khác của vũ trụ…. Nhiệm vụ ngày nay và sau này của chúng ta là dùng sự từ bi quảng đại để đối đãi vạn vật tự nhiên”[xvi]. Leopold coi sự hoàn chỉnh, ổn định, mĩ lệ của thể chung của sinh mệnh là “luân lí địa cầu” với tiêu chuẩn đạo đức cao nhất, là tiêu chí biểu hiện thời đại của sinh thái học đã đến”[xvii].
Một người khác trực tiếp thúc đẩy sự trỗi dậy của phê bình sinh thái là Carson. Bà tiến hành phê bình sâu sắc văn minh phương Tây: “Chúng ta cứ cuồng vọng bàn đến việc chinh phục tự nhiên. Chúng ta còn không đủ trưởng thành để hiểu rằng con người chỉ là một bộ phận rất nhỏ của cũ trụ rộng lớn. Điều cốt yếu trong thái độ của nhân loại đối với tự nhiên ngày nay chính là vì con người hiện đại đã có năng lực có thể cải biến triệt để và hoàn toàn hủy diệt tự nhiên, quyết định vận mệnh của toàn bộ trái đất”. Sự kịch liệt khuếch trương năng lực nhân loại “là điều bất hạnh của chúng ta, hơn nữa rất có thể là bi kịch của chúng ta. Vì năng lực to lớn này không chỉ không chịu khống chế của trí tuệ và lí tính mà còn lấy sự vô trách nhiệm làm tiêu chí của nó. Cái giá lớn nhất phải trả của việc chinh phục tự nhiên chính là tự chôn vùi bản thân”[xviii]. Sau đó “nhân loại tự say sưa với năng lực to lớn của mình, xem ra đang đi ngày một xa trên con đường thực nghiệm hủy diệt bản thân và thế giới”[xix]. Carson “đã chất vấn thái độ cơ bản của xã hội kĩ thuật này đối với tự nhiên”[xx], làm lộ ra “quan niệm nguy hiểm ẩn tàng trong hành vi can thiệp và khống chế tự nhiên”[xxi], “cảnh cáo việc chúng ta dùng kĩ thuật chinh phục tự nhiên một cách thiếu tầm nhìn xa rất có thể sẽ hủy diệt tài nguyên cần thiết đối với sự sinh tồn của nhân loại, mang đến cho nhân loại tai họa mang tính hủy diệt”[xxii].
Phê bình sinh thái có cơ sở tư tưởng sâu rộng, nhưng điều này chưa đủ xác định nó sẽ có một tương lai huy hoàng. Phê bình sinh thái khởi đầu từ phê phán văn hóa tư tưởng, cũng dương danh ở phê phán văn hóa tư tưởng, sự phê phán này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy chúng ta nhận ra khiếm khuyết nghiêm trọng thậm chí chết người của truyền thống văn hóa và tư tưởng nhân loại. Nhưng, nếu như nó muốn thực sự đạt được sự “trưởng thành trên phương diện lí luận”, thì không thể chỉ dừng lại ở phê phán, mà tất yếu trên cơ sở kế thừa thành tựu tư tưởng sinh thái của người đi trước, giải quyết những vấn đề tư tưởng lớn mà người đi trước vẫn chưa giải quyết. Phê bình sinh thái không nên chỉ là “khoa học mang tính lật đổ”[xxiii], mà còn cần phải là khoa học mang tính xây dựng. “hướng đến sự trưởng thành trên phương diện lí luận”, đem đến trước tác lí luận mang tính tiêu biểu có ảnh hưởng rộng rãi”[xxiv] là kì vọng của giáo sư chủ nhiệm khoa Anh văn đại học Harvard Buell đối với sự phát triển trong tương lai của phê bình sinh thái, nhưng phê bình sinh thái cuối cùng nên có những đột phá nào trên phương diện thực hiện lí luận, Buell lại không chuyên tâm trình bày. Tôi cho rằng, phê bình sinh thái chí ít nên giải quyết vấn đề của bốn phương diện sau, hoặc chí ít có một số đột phá mang tính khai sáng.
Trước hết là nguyên tắc triết học về địa vị của con người trong tự nhiên và chuẩn tắc luân lí cơ bản trong việc đối đãi với tự nhiên. Liệu có cần triệt để phủ nhận chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận? liệu có phải tất yếu hướng đến chủ nghĩa sinh thái trung tâm? Cuối cùng là tiếp tục kiên trì coi lợi ích của con người là hạt nhân đồng thời coi trọng lợi ích của vạn vật tự nhiên, hay là chỉ coi con người là một mắt xích trong chuỗi sinh vật (bình đẳng với các mắt xích khác) và coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là cao nhất? sinh thái trung tâm liệu có phải tất yếu dẫn sự coi nhẹ nguyên tắc công chính?
Tiếp nữa là chủ nghĩa phát triển. Từ khi câu lạc bộ Roma đề xuất suy nghĩ mang tính phủ định đến nay, vấn đề này không chỉ không được giải quyết mà còn ngày càng phức tạp. Phát triển hay là sinh tồn?- phát triển có ích đối với sinh tồn hay là có hại đối với sinh tồn? Sự phát triển của nhân loại hiện nay hay là sự sinh tồn của con cái đời sau? Sự phát triển của nhân loại hay là sự sinh tồn của các vật chủng khác? Có thể và quan tâm đến sinh tồn và phát triển như thế nào? (bao gồm sự sinh tồn lâu dài của con cháu đời sau và vạn vật tự nhiên). Thế nào mới là sự phát triển chân chính? Nhân loại chân chính cần sự phát triển như thế nào? Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng và càng ngày càng trở nên quan trọng.
Tiếp nữa, chủ nghĩa khoa học và chủ nghĩa lạc quan kĩ thuật. Sự phê phán của các triết gia như Lewis Mumford, Heidegger, Horkheimer, Marcuse, Habermas…đối với khoa học kĩ thuật vì sao không được đại đa số mọi người, đặc biẹt là đại đa số những nhà chính trị có khả năng quyết định đối với mô hình phát triển xã hội và các nhà khoa học khác tiếp nhận? Trên cơ sở chỉ ra sự phát triển của khoa học kĩ thuật phá hoại có tính hủy diệt đối với sinh thái, làm thế nào để bình giá về vai trò quan trọng không thể thiếu của khoa học kĩ thuật đối với việc nhân loại thoát khỏi khó khăn sinh tồn và nguy cơ sinh thái? Làm thế nào để thúc đẩy khoa học kĩ thuật phát triển trên con đường thực sự có trách nhiệm đối với nhân loại và chỉnh thể hệ thống sinh thái.
Cuối cùng là phát hiện và dẫn nhập tài nguyên tinh thần của văn minh phương Đông cổ đại. Đây là một khuynh hướng phát triển quan trọng của phê bình sinh thái hiện nay. Rất nhiều các nhà tư tưởng và triết gia sinh thái như Schopenhauer, Schweitzer, Huxley, Toynbee,Capra, Ralston … đều nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại. Nxb Đại học Harvard liên tục xuất bản nhiều chuyên luận bàn về giá trị to lớn của tư tưởng sinh thái phương Đông cổ đại đối với trào lưu văn hóa sinh thái, như Tư tưởng Nho gia và sinh thái học(2001), Nho gia và sinh thái học (1998), Tư tưởng Phật giáo và sinh thái học (1997). Ngày càng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa sinh thái, tư tưởng sinh thái ý thức được rằng phát hiện và dẫn nhập trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại rất có thể sẽ giúp triết học sinh thái, luân lí học sinh thái, văn học sinh thái và phê bình sinh thái giải quyết được những khó khăn được nêu ở trên. Ở phương diện này, học giả Trung Quốc có ưu thế lớn, trên thực tế, khuynh hướng phát triển này của phê bình sinh thái mang đến cho học giả Trung Quốc có cơ hội hiếm có để hướng đến diễn đàn học thuật thế giới. Trên diễn đàn thế giới của phê bình sinh thái, rất nhiều người đang chờ đợi sự tham dự của học giả Trung Quốc, chờ đợi những cống hiến mới, tài nguyên tinh thần có tính gợi ý đến từ quê hương của trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại cho sự toàn cầu hóa của phong trào tư tưởng xanh.
Đỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung
Ngô Hương Giang hiệu đính thuật ngữ từ tiếng Anh
(Dịch, tổng hợp từ bản tiếng Trung: Phê bình sinh thái Âu Mĩ, Nxb Học Lâm, 2008, và Phê bình sinh thái: Phát triển và nguồn gốc, trong “Tuyển tập văn luận văn học sinh thái Trung quốc và thế giới”, Nxb Đại học công Thương Triết Giang, 2010, tr48-60)
Chú thích

[i] Will Curtis, The Nature of Things, The ECCO Press, 1984, “Preface”, p.ix
[ii]加林:《意大利人文主义》,三联书店1998年,第185_188页
[iii] wynneTyson,TheExren山deircle,ParagonHouse,1989,P.65.
[iv]狄特富尔特等编《人与自然》,三联书店1993年版,第23页
[v]同上书,第209一210页。
[vi]Wynne Tyson, The Extended Circle, Paragon House, 1989, p131.
[vii] Lawrence Buell, The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Wirting, and the Formation of American Culture,Haravard University Press 1995, p 2009
[viii] H.D.Thorean, The works of Henry Thorea, Vol. I Walden Edition, 1906, p182
[ix] Wynne Tyson, The Extended Circle, p308
[x]狄特富尔特等编《人与自然》,第90页。
[xi]恩格斯:《自然辩证法》,人民出版社1984年版,第304一305页。
[xii] Donald Worster, Nature’s Ecônmy: A History of Ecological Ideas, Second Edition, Cambridge university Press, 1994, p46
[xiii] Ibid., p.192
[xiv] Ibid., p185
[xv]史怀泽:《敬畏生命》,上海社会科学院出版社1996年,第103页。
[xvi] Wynne Tyson, The Extend Circle,.p76
[xvii]参见利奥波德《沙乡年鉴》,吉林人民出版社1997年,第213页
[xviii] Linda Lear, Rachel Carson: Witness for Nature, Henry Holt & Company, 1997, p 407
[xix] Carol B. Gartner, Rachel Carson, Frederick Ungar Publishing, 1983, p187
[xx] Mary A. McCay, Racel Carson, Twayne Publishers 1993, p80
[xxi] Paul Brooks, The House of lìe: Rachel Carson at Work, Houghton Mifflin, 1972, p.239-94
[xxii] Philip Sterling, Sea and Earth: The life of Rachel Carson, Thomas Y, Crowell Company, 1970, p193
[xxiii] Donald Worster, Nature’s Ecônmy: A History of Ecological Idea, 1994, p58
[xxiv] Lawrence Buell, “On Ecocriticism (Aletter)”, OMLA 114,5 (oct, 1999), p.1091

Thi học cổ điển Trung hoa—Học phái, phạm trù, mệnh

thi học cổ điển Trung Hoa 2Giới thiệu:

Tên sách: Thi học cổ điển Trung hoa—Học phái, phạm trù, mệnh đề

Tác giả: GS.TSKH. Phương Lựu (chủ biên), PGS.TS Trần Mạnh Tiến, TS Đỗ Văn Hiểu, TS Nguyễn Thu Hoài

Số trang: 375, khổ sách: 17 x 24

Nhà xuất bản: Đại học Sư phạm

Thời gian xuất bản: in xong và nộp lưu chiểu quý 1-2016

 

 

Công trình Thi học cổ điển Trung hoa—Học phái, phạm trù, mệnh đề sẽ có ý nghĩa cùng giá trị khoa học và thực tiễn trên nhiều mặt. Trước hết, từ góc độ thi học cổ điển được đào sâu hơn, sẽ giúp hiểu rõ thêm những tinh hoa trong văn thơ Trung quốc vốn quen thuộc hàng ngàn đời với nhân dân ta. Mặt khác cũng sẽ có thêm những căn cứ mới mẻ sâu sắc hơn để lý giải chính xác thêm thi học trung đại Việt Nam, vì giữa hai bên có mối quan hệ  giao lưu ảnh hưởng rất lâu đời. Dù sao đó cũng là nhìn về quá khứ, quan trọng hơn là câu chuyện đang diễn ra hướng về tương lai trong quá trình xây dựng một nền lý luận văn học dân tộc – hiện đại của nước ta, việc hấp thu những tinh hoa lý thuyết của nhân loại mà thi học cổ điển Trung Hoa là một tiêu biểu, cần được tiếp tục khai thác.

Tác giả chủ biên: GS.TSKH. Bùi Văn Ba (bút danh Phương Lựu), Giáo sư Lí luận văn học khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà nội, ngay từ năm 1977 đã xuất bản chuyên luận, tiêu biểu như: Lỗ Tấn – nhà lí luận văn học, Nxb Đại học, H. 1977; Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1985; Tinh hoa lí luận văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục, 1989; Khơi dòng lí thuyết, Nxb Hội nhà văn, 1997; Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1997; Lí luận phê bình văn học thế kỉ 20, Nxb Văn học, 2001; Từ Văn học so sánh đến thi học so sánh, Nxb Văn học, 2002; Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Đại học Sư phạm, 2005; Lý thuyết văn học hậu hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, 2011, và nhiều giáo trình, chuyên luận lí luận văn học có giá trị khác.

 

STT MỤC LỤC trang
MỞ ĐẦU
1. Mục đích ý nghĩa của đề tài
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
3. Nhiêm vụ nghiên cứu
4. Phương pháp luận nghiên cứu
Phần I. CÁC HỌC PHÁI CHÍNH YẾU

TRONG THI HỌC CỔ ĐIỂN TRUNG HOA                                

Chương 1 Sự xuất hiện tư tưởng thi học cơ bản trong thời Chiến quốc  
I. Sự manh nha của mĩ học và thi học trong Chu Dịch
II. Mĩ học và thi học  của Khổng Tử – thủy tổ của Nho gia
III. Mĩ học của Lão Tử – thủy tổ của Đạo gia
IV. Mĩ học và thi học của Mặc gia
V. Tư tưởng văn hóa văn nghệ của Pháp gia
Chương 2 Diễn biến của thi học Nho gia
I. Lí luận phê bình văn nghệ của MạnhTử
II. Từ Nhạc luận của Tuân Tử đến Nhạc kí khuyết danh
Chương 3 Diễn biến của thi học Đạo gia
I. Mĩ học và thi học của Trang Tử
II. Thi học của Huyền học Đạo giáo
Chương 4 Thi học Thiền gia với tư cách là bản địa hóa thi học Phật giáo
I. Thiền tông là Phật giáo Trung Quốc hóa
II. Thi tăng Thích Hiệu Nhiên với sự manh nha thi học Thiền gia
II. Tư Không Đồ – người mở đầu thi học Thiền gia
IV. Lí thuyết Diệu ngộ của Nghiêm Vũ, đỉnh cao của thi học Thiền gia
Chương 5 Xu hướng tam giáo hợp lưu trong thi học cổ điểnTrung hoa   
I. Nguyên lí nền tảng khác nhau giữa ba dòng thi học
II. Nguồn gốc và biểu hiện của xu hướng hợp lưu
Chương 6 Từ mô thức tư duy Thiên nhân hợp nhất đến Giao cảm luận – hạt nhân trong hệ thống thi học cổ điển Trung Hoa                                                
I. Thiên nhân hợp nhất – từ siêu triết học đến mĩ học và thi học
II. Giao cảm chứ không phải phản ánh hoặc biểu hiện thuần túy
Phần II. HỆ THỐNG CÁCKHÁI NIỆM CƠ BẢN
Chương 7 Đặc điểm của khái niệm xét từ tư duy kinh nghiệm và Hán ngữ
I. Giàu sắc thái chủ thể về mặt khái quát
II. Tính trực quan sinh động
III. Tính mơ hồ đa nghĩa
IV. Tính đa giác về mặt cảm quan nghệ  thuật
Chương 8 Hệ thống các khái niệm cơ bản về chủ thể sáng tác
I. Đức hạnh
II. Tài năng
III. Học vấn
IV. Văn khí
Chương  9 Hệ thống các khái niệm cơ bản về tư duy nghệ thuật               
I. Cảm vật
II. Cảm hứng
III. Thần tứ
IV. Hư thực
V. Hình thần
Chương 10 Hệ thống các khái niệm cơ bản về tác phẩm văn thơ               
I. Văn chất
II. Tình chí, tình lí
III. Ý tượng, Ý cảnh
IV. Kết cấu
V. Văn từ
VI. Hoạt pháp
Chương 11 Hệ thống các khái niệm cơ bản về thể loại văn thơ
I. Thơ ca
II. Tiểu thuyết
III. Hí khúc                                                                                             
Chương 12 Hệ thống các khái niệm cơ bản về tiếp nhận văn thơ
I. Tri âm
II. Quan (bác quan, thông quan…)
III. Vị (ngoạn vị, nghiêm vị…)                                                                
IV. Giải (tâm giải, từ giải, thần giải, huyền giải…)                                 
           Phần ba HỆ THỐNG MT SỐ MỆNH ĐỀ THIẾT YẾU                    
Chương 13 Một số mệnh đề chung về văn học                                     
I. Văn vị thế dụng
II. Văn dĩ tải đạo với Văn dĩ minh đạo và Văn dĩ quán đạo
III. Thiên hạ chi chí văn,vi hữu bất xuất đồng tâm yên giả dã
IV. Văn chi vi vật, tất hữu đối dã
        Chương 14 Một số mệnh đề về nhà văn                                                
I. Duy ca sinh dân bệnh
II. Phát phẫn trước thư
III. Công phu tại thi ngoại
IV. Điểm thiết thành kim, đoạt thai hoán cốt
V. Nhai đàm hạng thuyết tất hữu khả
VI. Lương công tất hữu bất xảo
Chương 15 Một số mệnh đề về tư duy nghệ thuật                               
I. Xuất nhi quý thực, dụng chi quý hư
II. Ảo trung hữu chân, nãi vi truyền thần a đố
III. Hữu tả cảnh, hữu tạo cảnh
IV. Bất kì nhi kì, kì nhi bất kì
V. Ngụ ý vu vật, lưu ý vu vật
VI. Phù dung xuất thủy, thố tài lậu kim
VII. Phản thường nhi hợp đạo vi thú
VIII. Tuy vô thường hình, nhi hữu thường lí                                             
Chương 16 Một số mệnh đề về tác phẩm                                              
I. Phàm văn dĩ ý, thú, thần, sắc vi chủ
II. Chỉnh chỉnh tại mục, nhi hậu khả thi kết soạn
III. Nhất nhân hữu nhất nhân tính cách
IV. Nhất lân, nhất trảo
V. Đoạn vô công kiên chinh thực ngạnh phô trực tả…
VI. Tòng thượng hạ tả hữu tả
VII. Khoa nhi hữu tiết, sức nhi bất vu
VIII. Dụng tại cú trung lệnh nhân bất giác
Chương 17 Một số mệnh đề về thể loại văn thơ                                    
I. Thi dĩ ngôn chí
II. Căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa
III. Thi quý thiên chân
IV. Kinh hoa thủy nguyệt
V Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi
VI. Từ dĩ cảnh giới vi tối thượng
VII. Khúc nan vu thi dữ từ dã
Chương 18 Một số mệnh đề về tiếp nhận
I. Luận thi giả tắc bất khả bất kiêm thu chi
II. Đồng chi dữ dị, bất tiết cổ kim
III. Thi vô đạt hỗ
IV. Thi dĩ nhất tự luận công chuyết
V. Thi chi cực chí hữu nhất, viết nhập thần
VI. Ý do soái dã
VII. Dụng bút như dụng binh
  Thay lời kết   Sơ lược về ảnh hưởng của thi học cổ điển Trung Hoa ở Việt Nam                                                                                                               
I. Về học phái
II. Về khái niệm
III. Về mệnh đề
Tài liệu tham khảo chính                                                                            
Danh mục 33 bài o trong ngoài nước phản ánh nội dung của công trình          
Phụ lục I Ba bài báo tiếng Việt liên quan gián tiếp đến công trình        
I. Thánh cũng bảo phải biết vui chơi
II. Thi thi – một dạng của thi thoại Trung hoa
III. Thi học của thi thánh
Phụ lục II Nguyên văn 2 bài báo đăng ở Trung Quốc
I. Trung quốc cổ đại thi học tại Việt nam (Đỗ Văn Hiểu)
II. Trung quốc tỉ giảo thi học đích tiên phong tính

cập kỳ đối Việt Nam thi học đích ảnh hưởng (Phương Lựu)

 

 

 

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers