Kí hiệu học là gì?

Triệu nghị hành - kí hiệu họcTác giả: Triệu Nghị Hành, Giáo sư văn học so sánh, chủ nhiệm trung tâm Kí hiệu học và truyền thông, học viện Văn học và báo chí, Đại học Tứ Xuyên, Trung Quốc

Tinh thần con người, xã hội con người, toàn bộ thế giới nhân loại chìm đắm trong một thứ mà rất ít người cảm nhận thấy sự tồn tại của nó nhưng không lúc nào có thể thoát khỏi nó, đó chính là kí hiệu.

rất nhiều khái niệm quan trọng mà cuốn sách này sẽ sẽ đề cập đến, như ý nghĩa, hệ thống, tượng trưng, văn hóa, nghệ thuật, cái đẹp, hình thái ý thức… đều khổ vì định nghĩa quá nhiều và quá phức tạp, nhưng duy có kí hiệu và kí hiệu học lại dường như không có định nghĩa. Định nghĩa “kí hiệu học” của các trước tác phương Tây thường là: “kí hiệu học là học thuyết nghiên cứu kí hiệu” (Semiotics is the study of signs)[1]. Rất khó có thể coi đây là một định nghĩa, trong tiếng Trung, đây là một sự lặp lại của cùng một từ; trong tiếng phương tây, chỉ có giải thích gốc chữ Semiotics trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là gì, nếu có thể nói rõ điều gì về kí hiệu, thì miễn cưỡng có thể coi đây là một định nghĩa.

Nhưng rất nhiều nhà kí hiệu học cho rằng, không thể định nghĩa kí hiệu. Có nhà kí hiệu học sau khi viết hàng nghìn chữ, dứt khoát nói: “kí hiệu học có nên định nghĩa “kí hiệu” không? Mọi người đều biết, khoa học không cần thiết phải định nghĩa thuật ngữ cơ bản của chúng: vật lí học không cần thiết phải định nghĩa “vật chất”, sinh học không cần thiết phải định nghĩa “sinh mệnh”, tâm lí học không cần thiết phải định nghĩa “tinh thần”[2]. Nhưng kí hiệu học với tư cách là sự tìm tòi về quy luật tư duy phổ biến, mục đích của nó là làm rõ phương thức con con người biểu đạt và nhận thức ý nghĩa, vì thế trước hết không thể không xử lí định nghĩa cơ bản của mình. Bàn luận một cách nghiêm túc nhất thiết cần phải xuất phát từ định nghĩa, người viết tình nguyện mạo hiểm giản đơn hóa đề xuất một định nghĩa rõ ràng về kí hiệu.

Kí hiệu là cảm tri được cho rằng mang theo ý nghĩa: ý nghĩa phải dùng kí hiệu mới có thể biểu đạt, mục đích là biểu đạt ý nghĩa. Nói ngược lại, không có ý nghĩa có thể không cần kí hiệu biểu đạt, cũng không có kí hiệu không biểu đạt ý nghĩa.

Định nghĩa này, xem ra có vẻ giản đơn và rõ ràng, trở đi trở lại là quan hệ chặt chẽ giữa kí hiệu và ý nghĩa. Trên thực tế, định nghĩa này đã đã chạm đến vấn đề đến nay vẫn khó có thể trả lời, thậm chí có thể thu được một loạt các kết luận đáng kinh ngạc, cuốn sách này cần phải dùng vài chưng mới có thể thảo luận rõ vấn đề chi tiết mà câu này chạm đến.

Trước tiên, đã là bất kì hoạt động ý nghĩa nào đều là quá trình kí hiệu, ý nghĩa không thể thoát li kí hiệu, thì kí hiệu là điều kiện của ý nghĩa: có kí hiệu mưới có thể tiến hành hoạt động ý nghĩa.

Do đó, chúng ta phải định nghĩa “ý nghĩa”. Muốn nói ra bất kì ý nghĩa gì, phải dùng một ý nghĩa khác; phán đoán một sự vật là có ý nghĩa, chính là nói nó cái gợi sự giải thích, cái có thể giải thích. Nhưng tất cả những sự vật có thể giải thích ra ý nghĩa đều là kí hiệu, vì thế, ý nghĩa cũng có một định nghĩa giản đơn, rõ ràng như sau: ý nghĩa chính là tiềm lực một kí hiệu có thể được một kí hiệu khác giải thích, giải thích chính là hiện thực của ý nghĩa.

Jakobson nói: “Cái biểu đạt phải khả cảm khả tri, cái được biểu đạt phải có thể dịch”. Cách nói này cô đúc và rõ ràng, “tính có thể dịch” là “có thể dùng ngôn ngữ giải thích”, cũng bao gồm “có thể dùng một kí hiệu khác để tái hiện”, hoặc là “dùng một ngôn ngữ khác để phiên dịch”. “Có thể dịch” chính là dùng một ki shieuej thay thế một kí hiệu khác, nhưng kí hiệu này vẫn cần một kí hiệu khác để giải thích.

Vì thế, định nghĩa trên có thể tiến thêm một bước nữa: Ý nghĩa phải dùng kí hiệu mới có thể giải thích, kí hiệu dùng để giải thích ý nghĩa. Ngược lại, không có ý nghĩa có thể không cần kí hiệu giải thích, cũng không có kí hiệu không thể giải thích ý nghĩa.Câu nói này nghe có vẻ luẩn quẩn, nhưng trên thực thế ý tứ của nó rất đơn giản: mọt ý nghĩa bao gồm hai khâu cơ bản là phát ra (biểu đạt) và tiếp thu (giải thích), hai khâu này đều phải dùng kí hiệu mới có thể hoàn thành, mà kí hiệu phát ra khi được tiếp thu  và được giải thích phải được thay thế bằng một kí hiệu khác, vì thế, giải thích chính là khởi điểm của một quá trình kí hiệu khác, nó chỉ có thể tạm thời gác lại trước một quá trình kí hiệu khác, mà không thể kết thúc bản thân sự tiếp tục phát triển của ý nghĩa. Định nghĩa này nhất trí với “ý nghĩa sản sinh vô tận” sẽ được thảo luận ở phần sau của cuốn sách.

Do đó, chúng ta có thể trả lời vấn đề mở đầu của cuốn sách này: kí hiệu học là gì? Nói “kí hiệu học là học thuyết nghiên cứu kí hiệu”, bản thân học giả phương Tây đã vô cùng không hài lòng[3]; Định nghĩa “Kí hiệu học nghiên cứu tất cả những sự vật có thể được coi là kí hiệu” của Umberto Eco”[4], cũng dường như không có gì đổi mới. Cũng có người nói kí hiệu học “nghiên cứu đặc điểm của hoạt động kí hiệu (semiosis) của nhân loại, cũng chính là “năng lực kí hiệu nguyên” của con người”[5]. Điều này vẫn không thoát khỏi định nghĩa theo kiểu trùng điểm từ đồng nghĩa. Người viết cho rằng, xuất phát từ lí giải kí hiệu, chúng ta có thể nói kí hiệu học là học thuyết nghiên cứu hoạt động ý nghĩa của con người.

Vì sao có thể tóm tắt định nghĩa vắn tắt giản đơn, có lí như vậy, cần gì phải đợi cuốn sách này mới có thể nói ra được? Các nhà kí hiệu học đương nhiên đã nghĩ đến phương hướng này, nhưng học thuyết nghiên cứu ý nghĩa rất nhiều, ví dụ như Nhận thức luận, Ngữ nghĩa học, Logic học, Hiện tượng học, Giải thích học. Một số nhà lí luận cho rằng trọng điểm nghiên cứu của kí hiệu học là “biểu ý’ (signification, tức là articulated meaning)[6]. Foucautl cũng nói: “Chúng ta có thể gọi “thuyết thoại’ kí hiệu  và toàn bộ tri thức về phát triển ý nghĩa của nó là giải thích học; gọi nhận biết kí hiệu, hiểu toàn bộ tri thức về quy luật liên kết là kí hiệu học”[7]. Ý ông muốn nói là kí hiệu học và giải thích học mỗi thứ chiếm một nửa, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Quan điểm này đã không chính xác, trên twhcj tế hiện nay kí hiệu học đã vươn đến đầu tiếp thu của ý nghĩa kí hiệu, tức là toàn bộ hoạt động nghiên cứu và  ý nghĩa liên quan: kí hiệu chính là ý nghĩa, không có kí hiệu tức là không có ý nghĩa, kí hiệu học chính là ý nghĩa học. Nếu cuốn sách này đọc lên giống với “kí hiệu học trùng với tri nhận giải thích” hơn, cuốn sách này là hình thái nên có của kí hiệu học.

Sự móc nối liên tục giữa kí hiệu và ý nghĩa là xuất phát điểm cơ bản nhất của kí hiệu học. Định nghĩa trên của người viết nghe ra có vẻ giống với “tuần hoàn giải thích” (hermeneutical circle), trên thực tế cũng chính xác là một loại tuần hoàn giải thích: kí hiệu biểu đạt sự giải phóng ý nghĩa để thu hút giải thích kí hiệu, giải thích kí hiệu thông qua theo đuổi ý nghĩa tiếp cận biểu đạt kí hiệu. Học giả phương Tây không bàn luận vấn đề từ góc độ này, có thể là vì từ đồng nghĩa significance của ý nghĩa (meaning) có gốc cấu thành từ kí hiệu (sign), hai từ có cùng gốc, điều này rất rõ ràng. Nhưng họ thông qua định nghĩa thông dụng “kí hiệu học là học thuyết nghiên cứu kí hiệu” cũng chỉ là dùng một từ gốc lating (sign có gốc là signum) để giải thích gốc từ Hy Lạp đồng nghĩa (semiotics có gốc từ từ Semeion). Cuốn sách này dùng một định nghĩa theo kiểu tuần hoàn giải thích còn hơn dùng “định nghĩa trùng điệp” đơn hướng, có thể sẽ tiếp cận hạt nhân của vấn đề hơn.

Umberto Eco đã phát hiện ra giữa văn bản và giải thích có một sự tuần hoàn, điều này gần gũi với sự lí giải của người viết về kí hiệu. Ông nói “văn bản không chỉ là công cụ dùng để phán đớn lí giải tính hợp pháp, mà là một khách thể của giải thích dần dần được xây dựng trong quá trình luận chứng tính hợp pháp của bản thân”. Cũng chính là nói, văn bản là giải thích được kiến lập để luận chứng cho tính hợp pháp của mình, ý nghĩa của nó vốn không có tính đầy đủ. Umberto Eco thừa nhận đây là một tuần hoàn giải thích: “thứ được chứng minh trở thành tiền đề của chứng mình”[8]. Có ý nghĩa, mới có sự theo tìm kiếm ý nghĩa, có giải thích mới cấu thành văn bản kí hiệu.

Định nghĩa về ý nghĩa kí hiệu này của người viết có trong chương 8, tiết 3 của cuốn sách bàn về ý nghĩa của kí hiệu của “kí hiệu học ứng dụng” (sử dụng kí hiệu): quá trình sử dụng kí hiệu cũng chính là quá trình giải thích kí hiệu. Ý nghĩa của đèn đỏ có thể dùng ngôn ngữ, thế tay, động tác, giảm tốc độ…biểu thị “dừng xe” để giải thích, sự sử dụng kí hiệu đèn đỏ (chuẩn bị dừng xe, hoặc là tăng tốc độ vượt ngã tư) là sự lí giải đối với tín hiệu dừng xe. Nhiều chỗ của cuốn sách này (“Kí hiệu học ứng dụng” tiết 3 chương 8, “tượng trưng hóa’ tiết 7 chương 9…” sẽ thảo luận kĩ về tác dụng lớn của “sử dụng” trong việc hình thành ý nghĩa kí hiệu.

Để khẳng định sự tồn tại của bản thân, nhân loại phải tìm kiếm ý nghĩa của tồn tại, vì thế, kí hiệu là điều kiện bản chất của tồn tại của con người. Alfred North Whitehead nói: “Nhân loại tìm kí hiệu để biểu hiện bản thân, trên thực tế, biểu hiện chính là kí hiệu”[9]. Câu nói này đúng một nửa: không có kí hiệu, con người không thể biểu hiện, cũng không thể lí giải bất kì ý nghĩa nào, từ đó không thể là sự tồn tại của con người. Tiến thêm một bước nói, không có ý nghĩa, con người không chỉ thể tồn tại, thế giới “nhân hóa” không thể tồn tại, tư tưởng của con người cũng không thể tồn tại, vì chúng ta chỉ có thể dùng kí hiệu mới có thể tư tưởng, hoặc nói, tư tưởng cũng là một quá trình sản xuất và tiếp thu kí hiệu.

Mục đích của thảo luận như vậy là xác định phạm vi mà kí hiệu học can thiệp. Rất nhiều người cho rằng kí hiệu học chính là khoa học nghiên cứu văn hóa nhân loại, phạm vi nghiên cứu thực tế của kí hiệu học, văn hóa quả thực là một lĩnh vực rộng lớn nhất, nhưng kí hiệu học còn nghiên cứu hoạt động tri nhận, hoạt động tâm linh, tất cả các hoạt động có liên quan đến ý nghĩa của cá nhân, thậm chí còn bao gồm tất cả các hoạt động tâm linh và tri nhận của những vật hữu linh.

Chính vì nhân sinh cần ý nghia hỗ trợ, cuốn sách này mở đầu bằng cách nói lạ của Pierce, hi vọng đến khi kết thúc cuốn sách, có thể chứng minh được cái lí cách nói này. Pierce cho rằng bản thân con người là một kí hiệu mà con người sử dụng: “Mỗi tư tưởng là một kí hiệu, mà sinh mệnh là một hệ thống của tư tưởng, liên kết hai sự thực lại, từ mà con người dùng hoặc kí hiệu mà con người dùng chính là bản thân con người”[10]

Nếu tư tưởng của con người cũng phải dùng kí hiệu mới có thể tiến hành, vậy thì, khi ta một mình tư duy, chính là kí hiệu mà giao lưu dùng, cũng là nội hóa thành tư tưởng cá nhân. Như vậy, vốn thuộc về thế giới cá nhận – hoạt động tâm lí trầm tư, hoan giác, mộng cảnh…- tuy về nội dung là cực đoan cá nhân hóa, bí ẩn hóa, bị áp chế mà không bước vào biểu đạt, nhưng về hình thức lại có thể được người khác lí giả: đây chính là vì sao kí hiệu học có thể bàn luận nhân sinh.

Nếu tư tưởng là kí hiệu hóa bản chất con nguoiwf, vậy thì bản chất của con người cũng là “bản chất mang tính kí hiệu”. Sau bước ngoặt ngôn ngữ, giới học thuật đều đồng ý khái niệm cũ “người nói nói ngôn ngữ” nên được lí giải là “ngôn ngữ nói người nói”[11]. Vấn đề này sẽ bàn kĩ ở chương 16 của cuốn sách.

Bàn luận ở trên có vẻ rất trừu tượng, Kenneth Burke đã lí giải vấn đề này rất rõ ràng. Năm 1966 ông đưa ra một “định nghĩa của con người”, ông cho rằng con người theo Ernst Cassirer là “động vật sử dụng kí hiệu” vẫn chưa đủ, ông cho rằng, tư tưởng của con người thực sự là “màn hình cuối” của kí hiệu (terministic creen), thế giới thông qua nó mới “có ý nghĩa’(makes sense), cũng chính là nói, do sử dụng kí hiệu, chúng ta trở thành một phần của thế giới trong sự lí giải của chúng ta. Ví dụ như không có  bản đồ, sách địa lí, vĩ tuyến kinh tuyến, những thứ này dường như là công cụ kí hiệu thuần túy, chúng ta không thể có bất kì nhận thức nào về cục diện địa lí thế giới. Vì thế, con người có hệ thống kí hiệu địa lí hoàn toàn khác nhau, thế giới sẽ hoàn toàn khác nhau. Kenneth Burke kết luận: “không có hệ thống kí hiệu, thế giới sẽ không có hình thái ý nghĩa”[12]. Nếu chúng ta dựa vào “trời tròn đất vuông” để lí giải thế giới, chúng ta không chỉ sống trên một thế giới vô cùng khác, trên thực tế chúng ta là người hoàn toàn khác.

Thế giới địa lí như vậy, tất cả những gì con người sống trên thế giới phải xử lí, bao gồm gia đình, quan hệ nhân tế, tín ngưỡng, hình thái ý thức, thậm chí sống chết cũng như vậy. Thế giới và nhân sinh của chúng ta chính là sự tổ hợp của những nhân tố này. Vì thế, rất có lí khi nói, không có thế giới do kí hiệu mang lại ý nghĩa, chúng ta không thể tồn tại với tư cách là con người trên thế giới: kí hiệu chính là sự tồn tại của chúng ta. Cách nói này, dường như hơi quá một chút, nhưng rất nhiều nhà lí luận đã có kết luận tương tự, ví dụ như Susan Langer từng nói: “không có kí hiệu, con người không thể tư duy, chỉ có thể là một động vật, vì thế kí hiệu là bản chất của con người… Kí hiệu đã sáng tạo ra thế giới của con người rời xa cảm giác”[13].

Quan niệm của các nhà kí hiệu trước kia về vấn đề “bản chất kí hiệu của con người” là quan điểm vô cùng mạnh dạn. Coi hoạt động nội tâm của chúng ta là lĩnh vực không hoàn toàn cá nhân, không phải không thể lí giải, trên thực thế đã mở cửa cho kí hiệu học hướng tới lí luận hình thái ý thức của chủ nghĩa MÁc, hiện tượng học, phân tâm học. Tư tưởng của chúng ta, cho dù là ý thức xã hội và hoạt động văn hóa mang tính tập thể xã hội, hoặc là tư tưởng, ý chí, dục vọng cá nhân, hay là vô thức bị cự tuyệt biểu hiện, đều là sự vận tác theo phương thức kí hiệu.

Cuốn sách này còn nhiều lần nhắc đến luận điểm này, chứng minh thêm tính quan trọng của xuất phát điểm này. Chúng ta tổ hợp tạo thành thế giới này như thế nào, đến nay chúng ta biết vẫn chưa nhiều, vì thế giới con người có thể lí giải không phải là thế giới tự tại bên ngoài sự lí giải của con người. Một khi lí giải của con người tham dự vào, thế giới sẽ không còn là thế giới tự tại nữa, mà là thế giới nhân hóa. Thế giới một khi nhân hóa, sẽ biến thành hỗn hợp của kí hiệu và vật. Dương nhiên, coi thế giới là thế giới kí hiệu của tồn tại, lại là sự tự tự cao tự đại của con người. Chúng ta chỉ có thể nói, thees giưới ngoài phạm vi nhận thức của con người rất lớn rất phức tạp, trong khi con người chỉ có thể nhận thức nó căn cứ trên cảm tri và lí giải, vì thế, mở đầu cuốn sách này trong vài chương cần phân tích bàn luận kĩ vấn đề kí hiệu và vật làm thế nào hỗn hợp trong thế giới mà con người sinh tồn và tìm ý nghĩa.

Một số nhà lí luận tiến thêm một bước cho rằng thế giưới ngoài con người cũng do kí hiệu tổ hợp thành. Peirce cho rằng: “toàn bộ vũ trụ… cho dù không hoàn toàn do kí hiệu tổ hợp thành, thì cũng đầy kí hiệu”[14]. Đoạn văn này được nhiều người tán đồng, ví dụ như Hoffmeyer, ông miêu tả toàn bộ lịch sử vũ trụ bắt dầu từ vụ nổ lớn, miêu tả thành lịch sử đầy ý nghĩa kí hiệu”[15]. Ông chỉ ra, dấu vết của vụ nổ lớn (như quang phổ, bối cảnh phóng xạ), trở thành kí hiệu của lịch sử vũ trụ.

Người viết không muốn tán đồng với quan điểm có vẻ lớn mà không xác đáng này: kí hiệu chỉ xuất hiện khi con người tìm kiếm ý nghĩa trong thế giới, thế giới hiện thực (bất luận là “thế giới vật lí” hoặc “thế giới kinh nghiệm) sau khi trở thành thế giới nhân hóa mới có tính chất bản thể của tồn tại. Nên nói là, ngoài phạm vi vượt qua kinh nghiệm của con người, thế giới này cho dù như Peirce nói đầy kí hiệu, cho dù lịch sử của vũ trụ hoàn toàn là lịch sử của kí hiệu như Hoffmeyer nói, phần lớn chúng cũng chỉ là kí hiệu tiềm tại. Muốn lí giải “ý nghĩa đang ở dạng khả năng” ẩn tàng trong vũ trụ, có lẽ là sự ngạo mạn của “nhân loại trung tâm luận” điển hình. Chí ít, nhiệm vụ của kí hiệu học chỉ là tìm cách lí giải ý nghĩa và vật làm thế nào có thể hỗn hợp trong phương thức lí giải của con người.

(Triệu Nghị Hành, Kí hiệu học, Nhà xuất bản Đại học Nam Kinh, 2012, tr1-7

Đỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung, Dương Nội, ngày 29 – 04 – 2016


[1] Paul Cobley, “introduction”, The Routledge Companion to Semiotics, New York: Routledge, 2010, p3. Định nghĩa này trên thực tế có nguồn gốc từ việc Sausure sớm nhất kiến nghị xây dựng một môn khoa học gọi là “Kí hiệu học”, nó sẽ là một môn khoa học có tác dụng nghiên cứu kí hiệu học với tư cách là một bộ phận của đời sống xã hội’ (Perdinand de Saussure, Course in General Linguistics, Newyork: McGraw-Hill, 1969, p14).

[2] David Lidov, “sign”, in Paul Bouissac (ed), Encyclopedia of Semiotics, Oxford University Press, 1998, p 575.

[3] Daniel Chandler trong “Sơ cấp kí hiệu học” (Semiotics for Begimers) trên website có ảnh hưởng rất lớn, mở đầu là đoạn ngắn định nghĩa về Kí hiệu học, sau đó nói: “nếu bạn không phải là người đó, nhất định muốn bám vào vấn đề đau đầu, tì xin xem phần dưới…”. Câu nói này tỏ ra nhẹ nhàng một cách miễn cưỡng, nghe có vẻ rất bất lực.

[4] Umberto Eco, A Theory of Semiotics, Bloomington, Indiana University Press, 1976, p7

[5] Susan Petrilli, “Semiotics”, in Paul Cobley (ed), The Routledge Companion to Semiotics, Newyork: Routledge, 2010, p322

[6] Martin Bronwen and Felizitas Rinham, Key Terms in Smiotics, Continuum, 2008, p119.

[7] Michel Foucault, The Order of Things: An Archeology of Human Sciences, London: Routledge, 2002, p33

[8] Umberto Eco, “Giải thích và giải thích quá độ’, Bắc Kinh, Tam liên thư quán, 1997, tr78

[9] Alfred North Whitehead, Symbolism: Its Meaning and Effect, Cambridge: Cambridge university Press, 1928, p62

[10] Dẫn theo “Pierce”, Bắc Kinh, Trung Hoa Thư cục, 2003, tr 116

[11] Xem thêm “Ngôn ngữ, chủ thể, giới tính: bước đầu tìm hiểu mê cung của Judith Buler “Giới tính phiền phức: Chủ nghĩa nữ quyền và sự điên đảo căn cước”, Thượng hải, Tam liên thư quán, 2009, tr 2.

[12] Kenneth Burke, Language as Sybolic Action: Essays on Life literature and Method, Berkeley & Los Angeles: University of California Press, 1966, pp3-6

[13] Susan Langer: “Giới thích mới về triết học”, Bắc Kinh, Nhà xuất bản học viện truyền thanh Bắc Kinh, 2002, tr 28

[14] The Essential Peirce, Bloomington: Uniersity of Indiana Preses, 1992 – 1998, Vol 2, p. 394

[15] Jesper Hoffmeyer, Signs of Meaning in the Universe, Bloomington: University of Indiana Press, 1996

Duyên Hàn

Tôi không hề mê tín, nhưng theo năm tháng và những trải nghiệm cuộc sống, càng ngày tôi càng thấy hình như trong đời vẫn luôn có một chữ “duyên”

Trong cuộc sống, mỗi lần bước qua giới hạn của một không gian, chúng ta lại có điều kiện để hiểu thêm về nơi mình từng sống, và hiểu thêm về chính bản thân mình. Đến nay, tôi đã có ba lần bước qua ranh giới không gian để sống và thể nghiệm. Lần chuyển đổi thứ nhất là chuyển từ nông thôn lên thành thị – từ một vùng quê mà ước mơ sang trọng nhất, mà mỗi cô bé cậu bé chỉ là được lên thủ đô học tập và làm việc. Đến thủ đô, cùng với những cảm nhận thực tế về cuộc sống Hà thành là những suy nghĩ lắng sâu về vùng quê lam lũ. Lần chuyển đổi không gian thứ 2 là chuyển từ Hà Nội sang Bắc Kinh – Trung Quốc. Bốn năm sống và học tập tại Bắc Kinh cũng đủ để tôi hiểu ra vì sao một đất nước cách đây không xa cũng từng đói nghèo, lại có những bước đột phá nhanh đến như vậy. Lần chuyển đổi không gian thứ ba là từ Bắc Kinh sang Seoul – Hàn Quốc. Mỗi lần chuyển đổi không gian đều là kết quả của sự cố gắng không mệt mỏi, nhưng riêng với Hàn Quốc, bên cạnh sự cố gắng, tôi luôn cảm thấy dường như có một cơ duyên nào đó.

Vừa bảo vệ luận án xong, cũng như bao người khác, tôi cảm thấy mệt mỏi và trống rỗng, không muốn làm bất kỳ một thứ gì ngoài việc gặp gỡ chia tay bạn bè thầy cô và chuẩn bị tâm lý cho ngày trở về. Đúng lúc đó thì một đồng nghiệp gửi cho thông báo hội thảo quốc tế về Lỗ Tấn tổ chức tại Seoul và Chonam. Thông báo này đã thức dậy trong tôi mong muốn đến một đất nước thứ ba trước khi chính thức về nước đối mặt với những lo toan đời thường, dù sao đây cũng là một cơ hội để kết thúc một cách tốt đẹp và lãng mạn những năm tháng du học. Đây còn là điều kiện để hiểu thêm về Hàn Quốc cũng như về Trung Quốc, nơi tôi đã trải qua 4 mùa đông giá lạnh. Để đi được thì tôi phải có bài tham gia hội thảo, mà vừa bảo vệ xong, hạn gửi bài lại chỉ còn có một tuần, tôi không khỏi băn khoăn, ngại ngần. Nhưng ham muốn dịch chuyển không gian lần nữa lớn hơn những ngại ngần đó, tôi ngồi viết bài trong sức ép về thời gian và cảm thấy mệt hơn cả khi viết luận án. Trong chương trình hội thảo có cả phần tham quan tìm hiểu đất nước con người Hàn Quốc, tất cả trong 4 ngày và tôi dự định sẽ lưu lại thêm 2 ngày.

Tôi đến Hàn Quốc mang theo ý niệm đã có từ trước về đất nước này: Hàn Quốc – một trong những con rồng châu Á, Hàn Quốc – xứ sở của kim chi, hoa anh đào, của những bộ phim có khả năng lấy nước mắt khán giả. Đây còn là đất nước của mỹ phẩm, thời trang, của sâm và nấm, của những chàng trai mà mỹ phẩm họ dùng còn nhiều hơn cả mỹ phẩm con gái Việt Nam dùng, của những cô gái có nước da trắng mịn và những cặp chân dài, thon, thẳng. Nhiều đến nỗi cô bạn tôi từng du học ở Bắc Kinh phải thừa nhận “Ngay đến tớ nhìn chân con gái Hàn còn cảm thấy thích nữa là”.

Tôi đến Seoul vào một buổi chiều tháng 6/2013. Từ sân bay Incheon về khách sạn gần đại học ngoại ngữ Hàn Quốc – nơi tổ chức hội thảo, tôi giật mình khi thấy đến một số điểm dừng xe bus thì trên xe có thuyết minh tự động bằng tiếng Trung. Sau này, khi đi lại bằng tầu điện ngầm tôi mới biết, trên tàu điện ngầm, ngoài tiếng Hàn, thuyết minh tự động có cả tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung. Ở những nơi công cộng lớn như sân bay, ga tàu, bến xe cũng cùng tồn tại bốn thứ ngôn ngữ chỉ dẫn. Điều rất giản dị này đã nói lên tính mở và thực tế giao lưu rộng rãi trong văn hóa và cuộc sống Hàn Quốc đương đại.

Sân bay Incheon.JPG

Sân bay Incheon.

Tôi ngồi trên xe bus nhìn ngắm phố phường xung quanh và thấy thủ đô Hàn Quốc không lớn như trong tưởng tượng của mình, cơ sở hạ tầng không đồ sộ như Bắc Kinh. Người dân cũng tận dụng “mặt tiền” để kinh doanh khiến cho độ thoáng của đường phố bị giới hạn, và các dòng chữ quảng cáo, tên cửa hàng với font chữ lớn dán chen chúc dày đặc nhức mắt. Một nỗi thất vọng không lời nhen nhóm trong tôi. Nhưng những ngày ngắn ngủi sống và tham gia hội thảo, tiếp xúc với con người và quan sát thêm cuộc sống nơi đây, tôi hiểu hơn và trong lòng pha trộn nhiều cảm xúc.

Về kiến trúc, người Hàn không chuộng sự đồ sộ. Nếu như trong kiến trúc, người Trung Quốc thích sự hoành tráng và thích phô ra ở mặt tiền, thì người Hàn lại thích sự nhỏ nhắn, chú ý sự tiện dụng, tiết kiệm. Nhà của người dân thường nhỏ, thấp, bên ngoài và mặt tiền giản dị, nhưng tiện nghi thì được cố gắng trang bị đầy đủ, hiện đại. Có rất nhiều quán nhỏ, xinh, gọn và đặc biệt là sạch sẽ. Ở Bắc Kinh, lưu học sinh chúng tôi cũng thích ăn thịt nướng Hàn Quốc, nhưng chủ yếu là ăn ở những quán sang trọng, hoành tráng. Còn sang Seoul, tôi thấy nhiều quán nhỏ nhỏ, đi trên vỉa hè nhìn cảnh sắc xung quanh thấy vừa xa lạ vừa gần gũi, có một nét gì đó nhang nhác phố phường Hà Nội, đây là cảm giác không có được khi đi trên đường phố Bắc Kinh.

Có một điều rất tế nhị nhưng cũng rất thực tế, đó là nhà vệ sinh ở Hàn rất sạch sẽ, dù đó là nhà vệ sinh ở tàu điện ngầm hay bến xe khách. Điều này khiến tôi nảy ra một suy nghĩ cực đoan: để đo trình độ văn minh của mỗi quốc gia, có khi phải lấy nhà vệ sinh có sạch sẽ hay không làm một trong những thước đo quan trọng. Và những ai đã từng bị đinh tai nhức óc vì tiếng còi xe khi tham gia giao thông ở Việt Nam thì đến nơi đây chắc phải giật mình ngỡ ngàng khi phát hiện ra một sự im lặng trên đường phố nườm nượp ôtô của một nơi nhịp điệu cuộc sống vô cùng gấp gáp. Đó là sự im lặng của còi xe, chỉ trong những tình huống gấp gáp lắm mới nghe thấy tiếng còi.

phố đêm.JPG

Phố đêm Seoul tháng 6/2013.

Tôi may mắn vì không chỉ là một khách du lịch lướt qua những điểm du lịch nổi tiếng như đảo Ngô đồng Odongdo, tòa nhà quốc hội Thanh Ngõa Đài Cheongwadae, trung tâm mua sắm sầm uất Dongdaemun hay bờ sông Hán thơ mộng…, mà có điều kiện làm việc, tiếp xúc giao lưu trực tiếp với người Hàn để hiểu thêm một chút về phong cách làm việc nơi đây. Những ngày hội thảo tuy ngắn ngủi nhưng cũng để lại trong tôi ấn tượng không thể nào quên. Hội thảo tổ chức trong một hội trường rộng, nhưng do cách đó 2 tháng đã tổ chức một lần ở Harvard – Mỹ, nên số người tham dự lần này chỉ có hơn 40. Tôi hỏi một giáo viên Hàn Quốc: “Vì sao không yêu cầu sinh viên, học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh đến dự”. Giáo viên đó cười, nói rằng: “Hội thảo, ai quan tâm thì đến dự, không cần người đến vỗ tay, tạo không khí giả”.

Trước hội thảo, tham luận đã được gửi đến cho người phụ trách phản biện. Hội thảo chia thành từng nhóm, cùng lên “sân khấu” có ba người trình bày, ba người phản biện và một người điều hành nhóm, tạo một không khí trao đổi trang trọng, nghiêm túc. Buổi trưa chỉ nghỉ 1 tiếng, mọi người ăn uống rất giản dị ở ký túc xá để tiết kiệm thời gian, rồi tự dọn bát đĩa của mình. Những điều rất giản dị như vậy khiến tôi không khỏi suy nghĩ.

hội thảo.JPG

Hội thảo nghiên cứu Lỗ Tấn quốc tế lần tứ 4 tại Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, 6/2013.

Sau 6 ngày ở Seoul, tôi quay lại Bắc Kinh trong lòng mang theo những ấn tượng đẹp về Hàn Quốc. Sau những mệt mỏi viết bài để đến Hàn, những gì thu hoạch được trong chuyến đi này khiến tôi vô cùng mãn nguyện. Tôi an lòng với ngày chia tay quãng đời du học, và nghĩ là sẽ rất khó khăn, rất lâu sau mới có dịp bước ra khỏi ranh giới không gian một lần nữa. Sau 4 năm du học ở Bắc Kinh, sau 6 ngày ở Seoul, Chonnam, đêm 16/7, tôi về nước với đồ đạc sách vở lỉnh kỉnh. Về tới Hà Nội, trời đã tối, tôi thuê vội một phòng, nghỉ qua đêm để sáng hôm sau về quê. Khi đi ăn, trời bất ngờ đổ mưa tầm tã, tôi một mình vào quán, chỉ gọi một chai bia Hà Nội và một đĩa rau muống xào tỏi. Hết cơn mưa, trên đường đi bộ trở về nhà nghỉ, tôi bất chợt gặp người bán bánh khúc rong và mua một cái. Tôi vừa đi vừa ăn.

Thế nhưng duyên Hàn với tôi chưa hết. Một thời gian sau, nhà sách Quảng Văn mời tôi dịch cuốn tự truyện của nữ tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye, dịch qua bản tiếng Trung vì nhà sách nói rất khó tìm được người dịch tốt từ tiếng Hàn. Cuốn tự truyện có tên tiếng Trung là: “Tuyệt vọng tôi luyện lên tôi”, còn nhà sách yêu cầu đổi thành: “Tôi là Park Geun-hye”. Mặc dù cuốn sách không hề dễ dịch, nhưng tôi nghĩ, hình như mình có duyên với đất Hàn, nên đã nhận lời. Mặc dù biết tự truyện có nhiều yếu tố chủ quan, nhưng trong quá trình dịch, tôi đã hiểu thêm về đất nước, con người, về một giai đoạn lịch sử quan trọng của Hàn Quốc. Đặc biệt, tôi hiểu được vì sao một đất nước đã từng bị coi là nghèo nhất thế giới, phải đưa y tá và công nhân mỏ đến Đức làm thuê để có thể vay tiền từ chính phủ Đức xây dựng một số công trình quan trọng của đất nước… lại có thể nhanh chóng trở thành một trong những con rồng châu Á.

Tháng 3 vừa qua, khi tôi vừa hoàn thành bản dịch nộp cho nhà sách thì bất ngờ nhận được lời mời sang Đại học Ngoại ngữ Busan giảng dạy. Tôi vừa kết thúc 4 năm du học, về nước chưa đầy một năm lại đi, nên đây là sự cố gắng tạo điều kiện của cơ quan hay là “duyên Hàn” của tôi chưa hết?

tuyetvongrenluyenlentoi.jpg

Bìa cuốn tự truyện của nữ tổng thống Hàn Quốc Park Gen-hy (bản tiếng Trung).

Tôi hăm hở hào hứng với lần chuyển dịch không gian này, nó vừa như là “đến” vừa như là một cuộc quay trở lại. Tôi sẽ có nhiều thời gian hơn lần trước để có thể tìm hiểu sâu hơn về đất nước và con người nơi đây.

Khi tôi đến, cũng là thời điểm trường đại học Ngoại ngữ Busan chuyển sang cơ sở mới. Trường nằm trên một quả đồi, từ chỗ tôi ở, liên tục leo dốc hết hơn 10 phút mới tới trường, còn nếu đi bộ từ chân dốc – bến tàu điện ngầm Nam San – thì phải mất hơn 20 phút. Trường có tuyến xe bus riêng để đưa sinh viên từ dưới chân dốc lên và cả xe bus đưa sinh viên từ những điểm xa đến. Ngôi trường rất đẹp, hiện đại, mỗi tầng đều có nước cho sinh viên, có bàn ghế ngồi nghỉ ngơi. Lịch học của mỗi phòng đều dán ngay ở cửa để mọi người có thể biết phòng đó tiết nào học môn gì, tiết nào trống để có thể tận dụng, phòng học mở liên tục từ 9h đến 21h. Mỗi giáo viên đều có phòng làm việc riêng, trong phòng làm việc của giáo viên có đầy đủ tiện nghi. Tôi vào phòng làm việc của giáo sư Bae Yang Soo, giáo sư từng làm tiến sĩ tại Đại học Sư phạm Hà Nội, phòng của ông kín tường là giá sách, chủ yếu là sách tiếng Việt. Tôi tự nhủ, không biết bao giờ sinh viên và giáo viên Việt Nam có được điều kiện học tập và làm việc như thế.

đại học ngoại ngữ Busan.JPG

Busan University of Foreign Studies.

Busan mùa xuân thật đẹp. Tôi từng ở Bắc Kinh 4 năm nên ít nhiều có những cảm nhận về sự chuyển mùa rất rõ rệt ở xứ lạnh, nhưng vẫn bất ngờ trước sự nở bung rợp trời của hoa anh đào Busan sau những ngày lạnh giá quạnh hiu của mùa đông. Ngắm hoa anh đào mùa xuân Hàn Quốc, tôi chợt nhớ đến hoa phượng mùa hạ Việt Nam, và  nghĩ: sở dĩ hoa anh đào trở thành ấn tượng sâu đậm trong lòng người chính bởi vì người Hàn đã trồng nó rất tập trung trên những con phố, nơi công viên… Nếu ở ta cũng có chiến lược như thế thì hoa phượng, hoa bằng lăng, hay hoa điệp vàng cũng sẽ lưu lại mãi hình ảnh đẹp trong khách viễn phương. Mùa xuân, ngoài hoa anh đào, hoa hồng leo trên những bức tường, bờ rào cũng là hình ảnh rất độc đáo khiến không biết bao nhiêu người ngoại quốc phải trầm trồ muốn chụp ảnh cùng hoa.

hoa Anh đào.JPG

Tàu đi ra từ rừng hoa anh đào  – một điểm du lịch ở Busan.

Tôi biết ở xứ lạnh, đi du lịch đẹp nhất là vào mùa xuân tầm cuối tháng 3 và mùa thu vào cuối tháng 10, vì mùa xuân hoa nở ngợp trời, còn mùa thu lá vàng ngợp lối, nhưng do hoàn cảnh riêng nên nghỉ hè, tôi đã quyết định đi đảo Jeju và cố đô Gyeongju. Du lịch tự do đến Jeju nếu có một hành trình hợp lý thì chỉ cần đi xe bus đường dài là có thể đến được những điểm du lịch quan trọng như đá đầu rồng Yongduam, hang núi lửa Manjanggul, nơi đón mặt trời mọc đầu tiên ở Hàn Quốc Ilchulbong…. Jeju, hòn đảo vốn rất nghèo, ít nước, ít đàn ông (vì đàn ông đi biển gặp bão gió chết nhiều), nhiều đàn bà, nhiều gió bão, giờ đây đã trở thành điểm du lịch thu hút rất nhiều khách quốc tế, đặc biệt là người Trung Quốc.

Tôi ngồi nghỉ một lúc ở làng dân tộc Seongeup mà gặp 5-6 xe chở khách du lịch Trung Quốc. Tôi đi tàu thủy từ Jeju về Busan mất 12 tiếng, nhưng có thể được trải nghiệm cảm giác lênh đênh trên mặt biển yên bình, ngồi ăn hải sản bên bờ biển ngắm bến cảng lúc bình minh và những đàn hải âu bay lượn cũng là một thể nghiệm thú vị ở đất này. Còn đến Gyengju tôi tự nhủ với lòng mình là nhất định sẽ trở lại nơi đây vào mùa thu, bởi vì ấn tượng lớn nhất của tôi khi đến vào mùa hạ là một màu xanh bình yên trải dài trong không gian. Nếu mùa thu đến, hàng ngân hạnh chạy dài bên đường sẽ đồng loạt ngả sang màu vàng, đó sẽ là không gian đầy chất thơ và cũng là không gian lý tưởng cho những ai thích chụp ảnh và thích được chụp ảnh.

IMG_5353.JPG

Một thoáng Gyeongju.

Kết thúc một mùa hè với chuyến du lịch thú vị, tôi trở về chuẩn bị lên lớp cho kỳ học mới và đợi mùa thu đến. Hàn Quốc mùa thu liệu có đẹp như tôi tưởng tượng không, hay đẹp hơn thế? Tôi không hề mê tín, nhưng theo năm tháng và những trải nghiệm cuộc sống, càng ngày tôi càng thấy, hình như trong đời vẫn luôn có một chữ “duyên”. Hình như tôi thực sự có duyên với xứ xở này hay xứ sở này là xứ sở có nhiều duyên?

Cuộc thi ‘Hàn Quốc hành trình kỷ niệm’ do Báo điện tử VnExpress phối hợp với Tổng cục Dua lịch Hàn Quốc tại Việt Nam tổ chức, bắt đầu từ ngày 1/7 đến 31/8. Độc giả gửi bài dự thi tại đây.

Đỗ Gia

Hội thảo quốc tế về Lỗ Tấn tại Seoul và Chonnam (Hàn Quốc) vào giữa tháng 6 -2013 với sự tham gia của một số học giả Việt Nam

1thaoluanHai đại biểu người Việt có mặt tại sự kiện mang tầm vóc quốc tế này là tiến sĩ Đỗ Văn Hiểu (Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội) và nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Thương, đang tu nghiệp tại Đại học Nhân Dân (Trung Quốc).

Đây là hội thảo lần thứ 4 trong chương trình hoạt động của Hội nghiên cứu Lỗ Tấnquốc tế, do Hội nghiên cứu Lỗ Tấn quốc tế kết hợp với Hội nghiên cứu văn hoá Trung Quốc của Hàn Quốc, Tạp chí Hàn Quốc đương đại của Học viện khoa học xã hội Trung Quốc, Khoa Trung văn ĐH ngoại ngữ Hàn Quốc và Viện nghiên cứu Đông Á của ĐH Chonnam tổ chức.

Chủ đề của hội thảo xoay quanh các vấn đề nghiên cứu Lỗ Tấn ở thế kỉ 21 trong bối cảnh dân tộc hóa, toàn cầu hóa.

 

TS. Đỗ Văn Hiểu (Thứ 3 từ phải sang)

Hội thảo thu hút 33 báo cáo của hơn 40 nhà nghiên cứu gồm nhiều nội dung đa dạng: 13 báo cáo tập trung vào vấn đề tiếp nhận và ảnh hưởng của Lỗ Tấn ở các nước, 14 báo cáo nghiên cứu trực tiếp về Lỗ Tấn, trong đó 4 bài có sự giao thoa của cả hai nội dung trên.

Các báo cáo còn lại thuộc lĩnh vực “nghiên cứu của nghiên cứu” (tức lịch sử nghiên cứu Lỗ Tấn).

 

Học giả Việt Nam tham dự hội thảo quốc tế về Lỗ Tấn 1

Hội thảo ở ĐH ngoại ngữ Hàn Quốc ở Seoul, người mặc comple đen, thắt cà vạt (giữa) là GS Park Jae Woo, chủ trì hội thảo

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Thương (thứ 2 từ trái sang) – Ảnh do nhân vật cung cấp

Nguồn: http://thanhnien.vn/van-hoa/hoc-gia-viet-nam-tham-du-hoi-thao-quoc-te-ve-lo-tan-25185.html

(có bổ sung 1 ảnh)

GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI PHƯƠNG TÂY MỚI NHẤT

Giáo trình lí luận phê bình văn học phương tây mới nhấtLời tựa

Các trường phái lí luận văn nghệ phương Tây thế kỉ 20 vô cùng phong phú, đại thể có thể phân thành: chủ nghĩa hình thức, phân tâm học, hiện tượng học, giải thích học, chủ nghĩa hiện sinh, tiếp nhận phản ánh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa Mác mới, chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu thực dân, chủ nghĩa tân lịch sử, nghiên cứu văn hóa, lí luận phê bình sinh thái.

So sánh với lí luận văn nghệ trước thế kỉ 20, lí luận phương Tây thế kỉ 20 có sự khác biệt rất lớn, biểu hiện rõ nhất ở những xu thế như sau:

Lí luận văn học đã không còn bó hẹp ở nghiên cứu bên trong tự thân văn học, mà đã có cái nhìn văn hóa rộng mở, và có quan hệ mật thiết với lí luận xã hội học, tâm lí học, triết học, chính trị học, văn hóa học, sinh thái học, hấp thu cội nguồn văn hóa học thuật của nó, khiến nó tự thân đạt đến cảnh giới học thuật tiên phong đồng bộ phát triển cùng các ngành khoa học xã hội nhân văn khác; thực hiện được bước ngoặt diễn ngôn của lí luận và phê bình, cho dù là vấn đề tính hiện đại hay hậu hiện đại thì đều thâm nhập vào trong diễn ngôn phê bình và tư duy văn nghệ, ý thức vấn đề làm cho lí luận văn nghệ trong thời đại không ngừng biến động đã phản ánh một cách đa chiều đa hướng thời đại này, vì thế đã xuất hiện cục diện rất nhiều trường phái, trào lưu; lấy cái nhìn mang tính quốc tế để nhìn sự phát triển lí luận văn học thế giới, bất luận là lí luận phương tây hay phương đông đều không thể bó hẹp ở một khu vực, một quốc gia, mà trở thành hoạt động lí luận có tính hiện đại và hậu hiện đại mà cộng đồng nhân loại cùng đối diện, vì thế, lí luận văn nghệ đã trở thành diễn ngôn tiên phong có tính quốc tế trong trào lưu tư tưởng đương đại, thành thước đo lí luận quan trọng trong việc lí giải tính cách văn hóa, tinh thần văn học dân tộc; từ “thế giới lớn” đến “thế giới nhỏ”, từ “lịch sử lớn” đến “lịch sử nhỏ”…, con đường học thuật từ “lớn” đến “nhỏ” được thể hiện rõ nét trong chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu thực dân, chủ nghĩa tân lịch sử, nghiên cứu văn hóa…; xuất hiện sách lược văn hóa chuyển từ tư duy lí tính sang ngôn ngữ học và nghiên cứu văn hóa, đồng thời khiến phương thức biểu hiện của diễn ngôn và phương thức ngôn thuyết vươn lên một địa vị quan trọng trong lí luận văn nghệ, làm cho lí luận văn nghệ thế kỉ 20 mang tính phi hệ thống, tính tiêu giải, tính hình thức, tính phi chủ thể, phi lí tính hóa và chuyển hướng ngôn ngữ, chuyển hướng văn hóa; nhấn mạnh xem xét các vấn đề cơ bản của văn nghệ, vấn đề cơ bản này thường có quan hệ mật thiết với chính sách quốc gia, dân tộc, chủng tộc, giới tính, lối viết, văn bản, đọc hiểu, phê bình và văn hóa, điều này đã cấu thành lên phẩm chất mở rộng của lí luận văn nghệ thế kỉ 20 và không gian rộng mở thẩm thấu vào lĩnh vực văn hóa.

Đối với lí luận văn nghệ, thế kỉ 20 không chỉ là thời đại của phê bình văn nghệ, mà còn là thời đại của việc xây dựng lí luận văn nghệ. Vì thế, chúng tôi có thể từ ngữ cảnh xây dựng nền lí luận văn học đương đại Trung Quốc để xem xét lí luận văn học phương tây đương đại mà chúng ta đối mặt, đồng thời thông qua nghiên cứu sự phát sinh phát triển của lí luận phương tây đương đại làm mới tư duy lí luận văn nghệ cũng như phương thức ngôn thuyết diễn ngôn của mình.

Trong ngữ cảnh hậu hiện đại và ngữ cảnh thực dân, khi chúng ta nghiên cứu các loại “chủ nghĩa” tây học, cần phải làm rõ ngữ cảnh văn hóa tư tưởng của nó, tức là điều chúng ta đối diện là vấn đề phương pháp luận hay là vấn đề bản thể luận? những vấn đề này đã xuất hiện như thế nào? Thuộc về vấn đề tầng diện diễn ngôn nào? Là vấn đề mới hay là vấn đề cũ thậm chí là vấn đề cũ mới xuất hiện? là vấn đề của phương tây hay là vấn đề chung của nhân loại? là vấn đề bản thổ của dân tộc quốc gia hay là vấn đề có tính toàn cầu? là vấn đề lí luận hiện đại hay là vấn đề lí luận hậu hiện đại.

Chỉ quan tâm đến vấn đề văn hóa đương đại chưa đủ, còn phải tìm ra được “địa cơ” tư tưởng của lí luận văn nghệ đương đại, tìm ra chỗ đứng triết học bản thể luận của vấn đề lí luận, tiến tới nắm được góc độ mới về phương pháp luận trong việc phân tích vấn đề văn nghệ đương đại. Trên thực tế, lí luận văn nghệ phương tây đương đại không chỉ là biểu trưng của vấn đề mới trong sự phát triển học thuật tư tưởng phương tây, mà còn là quan hệ mật thiết của các diễn ngôn giữa các bên của nhân loại, đồng thời còn là cảnh ngộ chung đối diện với sự phát triển tương lai của nhân loại trên vấn đề tính hiện đại và hậu hiện đại.

Vì thế, chúng ta phải quan tâm đến một số vấn đề sau: từ một thế kỉ nay, đặc biệt là cuối thế kỉ 20, lí luận phương tây xuất hiện vấn đề gì? Chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc có sự chuyển đổi mang tính kết cấu như thế nào? Phân tâm học trong phê bình văn nghệ có độ sâu và điểm sai lầm nào? Hiện tượng học, giải thích học có tính ý hướng và vĩ độ giải thích ý nghĩa như thế nào? Chủ nghĩa hiện sinh và lí luận tiếp nhận phản ứng nhấn mạnh tính chủ thể văn học như thế nào? Chủ nghĩa Mác mới và chủ nghĩa nữ quyền đã triển khai phê phán văn hóa của mình từ góc độ thi học chính trị như thế nào? Sự xuất hiện của lí luận văn hóa và lí luận văn học chủ nghĩa thực dân mang đến vấn đề tiền cảnh liên quan đến bá quyền văn hóa, diễn ngôn quyền lực, văn hóa thế giới thứ ba…, tính khả năng ứng đáp học thuật của nó nằm ở đâu? “lịch sử” trong chủ nghĩa tân lịch sử là chủ quan hay là sự thật lịch sử? Trong sự giải thích, lịch sử bị hiểu sai một cách vô ý hay là hữu ý? Bị đọc hiểu thành lịch sử hình thái ý thức chính trị, lịch sử diễn ngôn quyền lực hay là “dã sử” văn hóa? Phê bình sinh thái liệu có sáng tạo ra một hệ thống tương đối độc lập tự thân? Hình thức sexy hóa của văn nghệ làm thế nào để tìm được đường đi liên thông tương đối tốt giữa việc quan tâm đến thế tục và quan tâm đến ý nghĩa cuối cùng? Nó vừa không thể “thay tôn giáo”, cũng không thể trở thành thời “biểu trưng của dục vọng”, làm thế nào để xác lập được bản thể của mình? Vấn đề truyền thông đại chúng, văn hóa thẩm mĩ của thời đại “nghiên cứu văn hóa, và khó khăn của nó nằm ở đâu? Những vấn đề này đều cần phải xem xét thêm một cách nghiêm túc.

Đối với nghiên cứu lí luận văn nghệ phương tây, nếu nói diễn ngôn logic triết học là linh hồn của nghiên cứu lí luận văn nghệ và thể hiện tính chung trong nghiên cứu văn nghệ thì mô hình lí luận văn nghệ thông thường lại là sự vận dụng đương đại của phương pháp nghiên cứu văn nghệ, thể hiện ra cá tính tư tưởng của những trọng điểm khác nhau trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu lí luận văn nghệ cụ thể lại là phương pháp luận trung gian giữa mô thức lí luận văn nghệ đương đại và nghiên cứu lí luận văn nghệ cổ đại, có thể mượn một số phương pháp mới để bổ sung cho nghiên cứu văn học. Tóm lại. “mô hình lí luận” là bộ phận chủ thể của nghiên cứu lí luận phương tây đương đại, một mặt nó chịu sự chỉ đạo và chế ước của phương pháp logic triết mĩ, mặt khác nó lại không ngừng tiếp thu nguồn tư tưởng mới trong các ngành khoa học khác, và trong nghiên cứu hiện tượng văn học cụ thể không ngừng hoàn thiện bản thân. Vì thế, khi tiến hành nghiên cứu các mô hình lí luận văn học khác nhau, cần phải làm rõ cội nguồn lí luận và bối cảnh lịch sử của nó, làm rõ tư tưởng chủ yếu của nhân vật đại diện quan trọng, chỉ ra đặc trưng phương pháp luận lí luận của nó, và thông qua vận dụng thực tiễn cụ thể của lí luận thấy được ý nghĩa đương đại và cả những hạn chế của nó, đó chính là nguyên tắc phương pháp luận khi biên soạn cuốn sách này.

Lí luận văn nghệ phương tây đương đại là một chỉnh thể hữu cơ, nó nằm trong sự vận động phát triển không ngừng. Phương pháp lí luận cuối cùng chỉ là cách thức nghiên cứu văn hóa nghệ thuật mang tính hiện đại hoặc hậu hiện đại phương tây, mà không phải là mục đích của nghiên cứu. Nghiên cứu lí luận văn nghệ phương tây chỉ là hình thức trung gian để tìm hiểu bí mật văn học nghệ thuật thế kỉ 20. Không có mô hình nghiên cứu lí luận văn nghệ cố định bất biến, cũng không có hệ thống lí luận là chân lí cuối cùng, phương pháp phê bình lí luận văn nghệ thực sự có sức sống là phương pháp phát triển cùng với sự tiến lên không ngừng của thực tiễn và tư duy. Vì thế, nghiên cứu lí luận văn nghệ phương tây hiện đại tất yếu phải nắm được một số vấn đề có tính mấu chốt sau:

Trên tầng diện lí luận văn hóa, nắm bắt một cách tổng thể tính ý hướng của lí luận phương tây đương đại. Trong thời đại văn hóa mở và tìm kiếm đối thoại, nghiên cứu văn nghệ hấp thu tài nguyên tinh thần trong diễn ngôn tư tưởng học thuật đương đại, làm cho bản thân có được tầm nhìn và cái nhìn học thuật rộng mở. Trong toàn bộ thời kì chuyển đổi diễn ngôn văn hóa nghệ thuật, vận dụng phương pháp mới phân tích vấn đề kết cấu tác phẩm, tâm thái nhân vật, kí hiệu ngôn ngữ, bổ sung thêm ý nghĩa… có ý nghĩa quan trọng của “chuyển đổi hệ hình”. Nghiên cứu lí luận thời kì chuyển đổi diễn ngôn làm tăng thêm tính phân tích cụ thể và phê phán học thuật đối với “lí luận mới” phong phú đa dạng, trên tiền đề thúc đẩy việc không ngừng đổi mới và phát triển tiến lên của nghiên cứu lí luận, phát huy điểm mạnh của các loại lí luận, tiến hành nghiên cứu có tính tổng hợp từ nhiều góc độ, nhiều tầng diện, có thể làm cho nghiên cứu lí luận có được tầm nhìn vĩ mô.

Phân tích lí luận văn nghệ hiện đại cần chú ý ngữ cảnh triết học và đặc trưng thi học của nó. Mục đích của nghiên cứu phương pháp lí luận văn nghệ và phương pháp phê bình không phải là vận dụng một cách máy móc mô hình diễn ngôn phương tây hoặc trực tiếp cấy nó vào trong nghiên cứu văn học Trung Quốc, mà là cố gắng mở rộng tư duy truyền thống, đem lại sự gợi mở mới cho văn học đương đại. Nếu chỉ thỏa mãn phân tích một số danh từ mới, thuật ngữ mới, mà bỏ qua tìm hiểu yêu cầu giá trị mang đặc trưng văn học của nó, thì sẽ coi nhẹ đặc tính của văn học, mà chỉ coi trọng tính chung của nó so với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội thông thường. Chỉ khi nghiên cứu thống nhất đối tượng và mô hình lí luận cụ thể mới có thể có được hiệu quả giải thích ý nghĩa mà các mô hình lí luận khác không thể thay thế, từ đó làm nổi bất quy luật đặc thù hàm chứa trong đối tượng của văn học trong một tầm nhìn mới.

Chú trọng tính hiệu quả và tính tương hỗ giữa các phương pháp nghiên cứu lí luận văn nghệ của các trường phái. Cái mà lí luận văn nghệ nghiên cứu là chỉnh thể văn nghệ, khi đối diện với chỉnh thể này, vận dụng các phương pháp khác nhau để tiến hành nghiên cứu, một mặt phải xuất phát từ mô hình lí luận cụ thể để tăng thêm sự hiểu biết về nó, mặt khác cũng nên thấy văn nghệ với tư cách là chỉnh thể hữu cơ, cần phải có sự bổ sung lẫn nhau, tác động lẫn nhau giữa các phương pháp mới có thể chạm tới đặc trưng giá trị của văn nghệ. Một chức năng quan trọng của nghiên cứu lí luận văn nghệ hiện đại là làm rõ trung gian giữa độc giả và đối tượng phê bình, thông qua tham tố góc độ hoàn toàn mới, thấy những điểm mà người khác không nhìn thấy, nói những điều mà người khác chưa nói. Nghiên cứu lí luận văn nghệ và phê bình văn hóa một cách hiệu quả là làm cho phương pháp phê bình lí luận mới đã được làm sáng rõ, đã tiêu hóa thành hạt nhân tinh thần bên trong của mình, và dốc hết khả năng có thể truyền đạt một cách chính xác linh hồn tư tưởng và hiểu biết về hiện tượng văn nghệ, đạt đến sự đọc hiểu đa tầng đa nguyên ý nghĩa đối với tác phẩm, hiện tượng, trào lưu văn học đương đại.

Tóm lại, tư tưởng phương tây nhấn mạnh tính tham chiếu khách quan của chân lí được xếp hàng đầu; tư tưởng của Trung Quốc lại nhấn mạnh nghiên cứu tính hoàn chỉnh của sinh mệnh. Lương tri là siêu việt đối với tri thức luận, nghệ thuật là thể nghiệm sâu sắc về nhân sinh, trên con đường thẩm mĩ nhân loại, kinh điển nghệ thuật lấy niềm tin tìm lại và giải phóng của nó, dẫn dắt cá nhân từ cảnh giới công lợi, từ cảnh giới nghệ thuật hồi quy cảnh giới thiên địa, mà sau tranh chấp đông tây, sự xung đột mô hình thể nghiệm sinh mệnh xuyên suốt từ tiền hiện đại – hiện đại đến hậu hiện đại.

Tuy nhiên vấn đề vẫn cứ tồn tại, vì sao trong thời đại tính hiện đại đã phát triển cao độ, nghệ thuật lại xấu đi? Vì sao cùng với việc nhân loại lên trời xuống đất khắp nơi tìm chân lí, lại có rất nhiều nghệ thuật gia, thi nhân, triết gia lạm dụng triển khai sự truy vấn đầy thống khổ về chân lí, dùng đầu đầy máu me để húc vào cánh cổng lớn của chủ nghĩa lí tính? Vì sao tri thức trung tâm chủ nghĩa lạnh lùng sáng tạo ra của cải vật chất phong phú đếm không hết cho nhân loại nhưng cùng với nó nghệ thuật lại mất đi gia viên của mình? Tính hoạt cảm sinh mệnh và tính ý hướng thẩm mĩ của nhân loại bị che phủ và chìm trong cảnh quan ưu chuộng hình thức của xã hội tiêu dùng? Tôi không kìm được tự hỏi: nghệ thuật còn có thể đảm nhiệm sứ mệnh tìm kiếm và cứu rỗi? Người bị bỏ rơi trong không gian mênh mông, còn có thể cầu cứu một thứ nghệ thuật đã bị đẩy ra bên lề, để kháng cự sự nô dịch và dị hóa của cơ giới lí tính đối với cảm tính?

Trong sự mở rộng của tư tưởng thế kỉ 20 và trong sự tìm kiếm giá trị luận dễ dàng phát hiện ra sức hấp dẫn của kinh điển không vì số nhiều mà mất di. Lịch sử là phép trừ, thổi hết cát vàng, sau khi ngôn ngữ đời thường khô cạn, chỉnh thể nhân loại giống như lạc đà bước vào hoang mạc văn hóa lâu dài, tất yếu có thể quay lại con đường thi tứ và triết tính, ngôn ngữ nghệ thuật sẽ lại rung lên hồi chuông vàng.

Trong thời đại toàn cầu hóa, thời đại phổ thế hóa tây hóa, làm thế nào trong thời đại phiến đoạn hóa tính hiện đại sáng tạo con người, lại một lần nữa thúc đẩy hồi phục lương tri cá thể, dùng lí tưởng giá trị để chống lại sự lạnh lùng của lí tính trung tâm chủ nghĩa, làm rõ những vấn đè văn hóa độc đáo của xã hội hậu hiện đại, từ đó dùng phương pháp hồi quy kinh điển đề xuất lập trường của bản thân, đây là điều quan trọng và bức thiết. Điều này cần chú ý: lí tưởng của nghệ thuật nằm ở sự siêu việt, nghệ thuật mất đi lí tưởng sẽ trở thành sản phẩm tiêu dùng kiêm giá, và ánh sáng sinh mệnh nhân loại cũng sẽ giống như ngọn nến trước gió. Nhân sinh tiên thiên bị kịch hóa, nếu lại mất đi hi vọng theo kiểu Nietzsche dùng cảm tính nghệ thuật đối kháng với hoang lạnh, tất yếu không còn nghi ngờ gì nữa sẽ rơi vào hư vô.

Cùng với nhân loại từ xã hội hiện đại bước vào xã hội hậu hiện đại, văn học nghệ thuật cũng trải qua sự giảm sút từ  thời đại của thơ ca – tiểu thuyết – tản văn – đọc hình, cùng với việc ngôn ngữ hướng tới thế tục hóa, tính thơ khô cạn, giá trị thất lạc, lương tri cũng bị che phủ. Với ý nghĩa này, sự khô cạn của ý thơ không thể lại là sự đóng gói xa xỉ, mà là sự cố chấp bước vào mảnh đất hư vô, tức là trong thời đại lí tính sự truy vấn và nghi ngờ của nghệ thuật không phù hợp, tức là sự phân mảnh vỡ vụn hóa của không gian và thời gian làm cho cá thể rơi vào Antisthenes làm mất đi gương mặt của mình thay vào đó là mặt nạ, nhưng chỉ cần sự tồn tại nghệ thuật vĩ đại, đặc sắc của nó soi chiếu kết cấu tất yếu sẽ thổi bay bụi trần phủ trên ngôn từ thơ ca, đưa chúng ta trở về với gia viên thẩm mĩ văn hóa của kinh điển.

(Đương đại tây phương tối tân văn luận giáo trình)

Nxb Đại học Phúc Đán, 2008)

 

(Đỗ Văn Hiểu dịch, Busan 2015)

CHUYỆN VÀ KỂ CHUYỆN (Stories and Storytelling)

 

 

kinh tế hóa văn hóa Nhân loại là động vật duy nhất trên thế giới biết kể chuyện. Bất kể ở nơi nào, thời đại nào hoặc trong bối cảnh văn hóa nào, chúng ta đều có thể tìm thấy những câu chuyện của nhân loại. Vì thế, câu chuyện đã vượt qua biên giới dân tộc, lịch sử và văn hóa.

Xét thấy câu chuyện không ở đâu không có như vậy, chúng ta không thể không suy nghĩ về chức năng của nó. Vì sao chúng ta biết kể chuyện? Rất nhiều nguyên nhân có thể lí giải điều này: cung cấp chỉ dẫn, mang đến hi vọng, khống chế hành vi, thuận tiện cho việc nhận biết, ghi chép truyền bá quan niệm, làm lớn mạnh năng lực ngưng tụ xã hội; đồng thời, câu chuyện cũng mang đến cho nhân loại phương thức lí giải tốt hơn, tham cứu nhu cầu, nguyện vọng, động cơ, hành vi của bản thân và người khác. Tất cả những lí do này đều có thể lí giải vì sao chúng ta cần kể những câu chuyện.

Câu chuyện thông thường đều dùng những phương thức nào? Tiểu thuyết, hài kịch, hoạt hình và truyện kí, những thứ này đều là hình thức câu chuyện quen thuộc. Chúng ta cũng có thể tìm thấy một số hình thức không thường xuyên gặp, ví dụ như thư tịch lịch sử, thời sự truyền hình, báo lá cải, phim truyền hình tư liệu, tiểu phẩm hài, thủy tinh màu trong giáo đường, tác phẩm hội họa và phần lớn quảng cáo đều liên quan đến những hình thức kể chuyện.

Vì thế, liệu có tồn tại câu chuyện chưa từng nhắc đến lĩnh vực hoặc nguyên tắc đời sống? Chẳng hạn như câu chuyện khoa học? Liệu có phải khoa học là sự thật chứ không phải là kể chuyện? Đáp án có thể là như thế này: khoa học có lẽ không trực tiếp liên quan đến kể chuyện, nhưng lại thường sử dụng hình thức giống như câu chuyện để miêu tả quá trình của bản thân nó. Tóm lại, khoa học bắt đầu từ sự vật thần bí, bản thân sự thần bí dẫn đến xung đột (tình huống thông thường là phát sinh trong nội bộ quần thể khoa học), trước khi một điểm chuyển ngoặt quan trọng xuất hiện, xung đột này sẽ được duy trì liên tục (điều này thường dẫn đến phát hiện mới). Khi sự phát hiện này do một số nhà khoa học khác tái hiện, bản thân sự thần bí và xung đột cũng biến mất, và dẫn đến một cuộc cách mạng trong nội bộ quần thể. Tất cả những nhân tố này – thần bí, xung đột, chuyển ngoặt, cách mạng – chúng ta đều có thể tìm thấy trong việc kể chuyện. Vì thế, tuy chúng ta hi vọng kết luận cho rằng khoa học không phải là đang kể chuyện, nhưng chúng ta trước sau vẫn phải thừa nhận khoa học dùng đặc trưng kể chuyện để giải thích bản thân nó.

Nhân loại liên tục tìm kiếm phương thức tái hiện bản thân và người khác. Khi các nhà khoa học tìm được một phương thức hoặc lí luận rộng lớn hơn để giải thích bản tính của nhân loại và xã hội, người kể câu chuyện lại cứ trong sự khác biệt và đa dạng, tham cứu những sự vật nào đó có thể giúp chúng ta trả lời chúng ta là gì và vì sao lại như vậy, cho dù điều này không phải là một “phương án lớn” hoặc “lí luận”. Chuyện và kể chuyện hàm chứa điều mà nhân loại gọi là “sức ghép chồng”. Câu chuyện là bậc thầy kết cấu, có thể dẫn dắt hoặc nói cho chúng ta tín ngưỡng, nguyện vọng, tư tưởng, tác động tương hỗ nhẹ nhàng nhất và sâu sắc nhất. Câu chuyện đã biểu hiện nỗi sợ hãi và hi vọng mãnh liệt nhất của chúng ta, chúng đã biểu đạt cảm thụ bên ngoài của chúng ta, giúp chúng ta ghi lại lời độc thoại sâu sắc nhất của nội tâm. Ở chương cuối cùng này, tôi thử bàn luận khái niệm trung tâm của chuyện và kể chuyện, bao gồm: chân thực và hư cấu, tính tự sự, truyền kì, tính cách và nhân vật, góc nhìn, bí ẩn, cao trào, bước ngoặt, giải quyết vấn đề.

(dịch)

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA GIẢI THÍCH (Matters of interpretation)

 

 

văn học ngoại biên hóa      Bạn giải thích như thế nào về bức điện tín này: 10-2-4. Nếu chỉ có như vậy, giải thích thông tin này dường như là điều không thể. Vì chúng ta không thể biết nó là như thế nào, ở đâu, vì sao được phát ra, hơn nữa, chúng ta cũng không thể biết được nó tạo ra vì mục đích gì. Một khi chúng ta biết được hoàn cảnh xuất hiện của nó, ý nghĩa của thông tin này sẽ rất rõ ràng. Đây cũng chính là thông tin mà chúng ta cần để hiểu một cách chính xác bức điện tín 10-2-4.

10-2-4 xuất hiện sớm nhất trong quảng cáo về nước uống DrPeppe và trên bình nước uống. Năm 1927, nghiên cứu về sự mệt mỏi của loài người cho thấy, trong một ngày, năng lượng cơ thể sẽ giảm xuống mức thấp nhất vào 10h30 sáng, 2h30 và 4h30 chiều. Tổ hợp chữ số 10-2-4 chính là xuất phát từ hạng mục nghiên cứu này. Vì nước uống DrPeppe muốn cung cấp năng lượng cho chúng ta, hạng mục nghiên cứu này cung cấp căn cứ để mọi người mỗi ngày uống ba lần loại nước uống này – xác thực đã có người làm như vậy rồi. Công ty tạo ra loại nước uống này làm bức điện tín dễ được tiếp thu hơn thông qua việc để mọi người chủ động nghiên cứu lí giải chính xác bức điện tín này.

Chỉ khi lí giải điện tín có một độ khó nhất định, chúng ta mới bắt đầu tìm hiểu kết cấu tầng sâu, cơ sở chưa biết, tượng trưng hàm ẩn và mô thức tiềm tại ẩn tàng sau thông tin bề mặt. Nếu như điện tín rõ ràng minh xác, chúng ta sẽ rất ít đi tìm những thứ này. Một bộ phận công việc của nhà kí hiệu học là muốn thể hiện những yếu tố có thể cung cấp bối cảnh cho các hình thức truyền bá, nhưng chúng ta lại thường coi những yếu tố này là tự nhiên. Trên thực tế, cho dù là vì lí giải điện tín thông thường, số lượng tư liệu bối cảnh mà chúng ta cần cũng là kinh người, cho dù là khi lí giải những điện tín mà bề mặt của nó hoàn toàn rõ ràng minh xác cũng giống như vậy.

Điều chúng ta muốn biết, khi chúng ta tiến hành giải thích kí hiệu, lí giải của chúng ta sẽ thông qua các loại khái niệm và kiến giải về vấn đề chủ thể khác nhau để hợp điệu: thông qua các loại nội hàm và chỉ thị mà sự vật, tranh ảnh và văn bản có thể có; thông qua bố cục và quy luật (ngôn ngữ) kiến tạo hiện tượng văn hóa và những ví dụ thực tế đặc thù (ngôn ngữ) của bố cục và kiến tạo quy luật; thông qua trình tự kí hiệu chúng ta dùng để kết hợp các sự vật khác nhau tạo ra trật tự chỉnh tề (kết cấu) và những vật thay thế (dọc theo hạng mục ngôn ngữ quan hệ tập hợp), số hiệu thay thế sản sinh trong trật tự này; thông qua sự khác nhau giữa đặc trưng cá thể và loại hình thông dụng của sự vật; thông qua quy tắc mà chúng ta tuân theo khi sử dụng thành công sự vật, tranh ảnh và văn bản; thông qua loại biệt cho phép chúng ta tiến hành phân loại và tổ chức đối với sự vật; thông qua phương pháp quen thuộc hình thành hình thức tri thức thông thường; và thông qua phương pháp chúng ta thiết kế để lí giải (hoặc lí giải sai lầm) đối với sự vật mà chúng ta cho rằng chúng ta đã biết.

(dịch)

KẾT CẤU VĂN BẢN (Textual structures)

 

 

vanhocthongtuc    Vì có phương tiện giao lưu mang tính phổ biến – ngôn ngữ, loài người mới có được sự khác biệt so với động vật khác. Trong hiện thực, sự khác biệt này có thể thể hiện ở lượng từ vựng đọc hiểu bình quân của nhân loại – chí ít trong xã hội phương Tây, lượng từ vựng đọc hiểu bình quân của con người duy trì trên dưới 40000 từ đơn. Nhưng, cho dù là một con tinh tinh thông minh nhất tiếp nhận hệ thống giáo dục ngôn ngữ của nhân loại cũng chỉ có thể nắm được nhiều nhất là 400 kí hiệu.

Ngôn ngữ tự nhiên khiến nhân loại có được một tư duy phát triển cao, bản thân ngôn ngữ lại có kết cấu lí tính. Chúng ta gọi một bộ phận của kết cấu này là cú pháp, gọi một bộ phận khác là ngữ ý. Cú pháp có thể nói cho chúng ta, câu tùy ý cấu thành trên phương diện ngữ pháp lúc nào là đúng, lúc nào là sai. Ngữ ý lại liên quan đến vấn đề ý chỉ cuối cùng của câu mà chúng ta dùng các loại quy tắc ngữ pháp tổ hợp tạo thành là gì. Trên phương diện khái niệm, cho dù dùng quy tắc ngữ pháp cấu thành câu và ý nghĩa của câu là hoàn toàn khác nhau, nhưng trong thực tế vận dụng, vai trò của hai thứ đó thường là như nhau. Hơn nữa, ở phương diện khác, quy tắc và ý nghĩa của ngôn ngữ cũng không thể lí giải một cách riêng lẻ, mà có liên quan đến vai trong hoàn cảnh khác nhau của nó.

Các nhà kí hiệu học không chỉ cảm thấy hứng thú đối với ý nghĩa do ngôn ngữ sinh ra, mà còn cảm thấy hứng thú đối với các loại hình ảnh của ngôn ngữ và sự tương tác của chúng hoặc quan hệ có thể tồn tại giữa sự vật. Cho dù chúng ta cho rằng ý nghĩa có thể sinh ra giữa văn bản, hình ảnh và sự vật, cũng vẫn cần phân tích những đặc điểm được miêu tả dưới đây. Những đặc điểm này được coi là phục vụ mục đích phân tích của chỉnh thể.

  • Hình thức văn bản, bao gồm hình trạng và màu sắc của chữ cái cho đến sự sắp xếp của văn bản
  • Nội dung văn bản, bao gồm ý nghĩa và sở chỉ của văn tự (nếu như có)
  • Hình thức tranh ảnh, bao gồm các loại kết cấu (kết cấu và khung), thủ pháp thị giác (phép thấu thị và các loại hình thức biến đổi và hình ảnh thấu kính sinh ra), nguyên tố hình thức hóa (sắc thái, sắc điệu và đường nét), những thứ này cùng cấu thành hình tranh ảnh.
  • Nội dung tranh ảnh, bao gồm cái gì có trên tranh ảnh: một con mèo, một cỗ xe, một căn nhà nhỏ, một cá nhân hoặc một quốc gia
  • Hình thức sự vật, bao gồm các loại kết cấu (bộ phận và phương vị tổ thành), thủ pháp tạo hình (trước sau, trên dưới, trái phải – thậm chí bao gồm mặt dưới – những thứ này thường được dùng để cảm nhận các góc diện khác nhau của sự vật.
  • Nội dung sự vật, bao gồm sự vật này là cái gì: điêu khắc, sản phẩm, kiến trúc hoặc là một bộ quần áo.

Trong chương này, chúng ta có cơ hội nhận thức những nội dung liên quan đến văn bản dưới đây: độc giả và văn bản, văn tự và hình ảnh, chức năng, hình thức, vị trí sắp xếp, tính hiển thị, âm thanh, quan hệ giữa tính tương tác bên ngoài và bên trong văn bản, văn bản phái sinh và ngôn ngữ bổ trợ.

(dịch)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 46 other followers