MỘT SỐ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MĨ HỌC TIẾP NHẬN TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM

                                                            

            Đối với giới nghiên cứu văn học ở Việt nam, “Mĩ học tiếp nhận” không còn là một thuật ngữ xa lạ. Nhưng có một thực tế là khi sử dụng, đã tồn tại sự không rõ ràng trong khái niệm “Mĩ học tiếp nhận” với tư cách là một trường phái nghiên cứu xuất hiện đầu tiên ở Đức những năm 60 của thế kỉ 20 và “Mĩ học tiếp nhận” với tư cách là Lí thuyết nói chung về tiếp nhận văn học nghệ thuật. Trong nghiên cứu văn học ở nước ta, phần nhiều nghiêng sang hướng tổng hợp, nghiên cứu cụ thể về Mĩ học tiếp nhận với tư cách là một trường phái nghiên cứu chưa thực sự được chú trọng(1), cũng chính vì thế mà hướng vận dụng lí thuyết này để giải quyết các vấn đề của thực tiễn văn học nghệ thuật ở Việt nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Hiện nay, ở Việt nam, văn hóa đại chúng bùng nổ, sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường, tinh thần tiêu dùng thấm vào mọi mặt trong đời sống, vì thế, người tiếp nhận lên ngôi. Sáng tác văn học không thể đứng ngoài bối cảnh đó, văn học nghệ thuật không thể phát triển nhờ sự tài trợ. Nghiên cứu văn học ở Việt nam cũng đã có một nền tảng khá dày dặn về nghiên cứu văn bản. Cho nên, việc nghiên cứu tương tác giữa tác giả, văn bản và người tiếp nhận cần được coi trọng hơn, nói cách khác, đẩy mạnh nghiên cứu Mĩ học tiếp nhận ở Việt nam hiện nay rất phù hợp với nhu cầu của thực tiễn

Bài viết này sẽ bắt đầu từ việc tóm lược tư tưởng chủ yếu của Mĩ học tiếp nhận với tư cách là một trường phái nghiên cứu; xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu Mĩ học tiếp nhận ở Việt nam cũng như thực tiễn văn học nghệ thuật ở Việt nam để đề xuất một số khả năng có thể ứng dụng Mĩ học tiếp nhận trong nghiên cứu văn học nghệ thuật.

  1. Mĩ học tiếp nhận với tư cách là một trường phái lí luận phê bình văn học

Vào những năm 60 của thế kỉ 20, Mĩ học tiếp nhận (Receptional Aesthetic) xuất hiện ở Đức mà đại diện tiêu biểu là hai giáo sư đại học Konstanz Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser. Mĩ học tiếp nhận cực thịnh vào những năm 70, 80, trở thành một hướng nghiên cứu phê bình văn học có ảnh hưởng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng bắt đầu mất dần vị trí vào cuối những năm 80, dần dần hòa vào trong trạng thái nghiên cứu đa nguyên của phê bình văn học.

Mĩ học tiếp nhận là một trường phái nghiên cứu tương đối phức tạp, dung hợp trong đó rất nhiều tư tưởng mĩ học triết học khiến bản thân nó thiếu tính thống nhất, nhưng mặt khác lại có độ mở khá cao. Mĩ học tiếp nhận chủ yếu kế thừa Giải thích học – giải thích học bản thể luận của Gadamer, kế thừa tư tưởng Hiện tượng học – triết học nghệ thuật của Roman Ingarden, kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa cấu trúc Prague và chủ nghĩa hình thức Nga. Chủ nghĩa hình thức Nga muốn xác lập sự độc lập của văn học, do đó phạm trù trung tâm mà họ quan tâm là “tính văn học”, “lạ hóa”, “diễn biến văn học”, “ngôn ngữ thơ ca”. Một bộ phận của chủ nghĩa hình thức Nga đã kế thừa và phê phán chủ nghĩa hình thức để phát triển thành chủ nghĩa cấu trúc Prague, mà đại diện tiêu biểu là Jakobson và Mukarovsky. Trong phân tích của Mukarovsky có chú ý đến vị trí của người tiếp nhận, và mở rộng nghệ thuật đến tiêu dùng sản phẩm của nghệ thuật xã hội học, phá vỡ quan niệm nghệ thuật nằm ở trên cao, mang tính cố hữu. Như vậy, Mĩ học tiếp nhận đã kế thừa ưu điểm và khắc phục những thiếu sót của các lí thuyết triết học mĩ học trước đó, để hình thành một thứ lí thuyết nghiên cứu phê bình văn học chú trọng giao lưu tương hỗ giữa văn bản và độc giả, đặt độc giả vào trung tâm của hoạt động văn học, thúc đẩy sự chuyển hướng lớn của lí luận văn học thế giới.

Jauss và Iser là linh hồn của trường phái Mĩ học tiếp nhận Đức, họ đều nhấn mạnh vị trí của người tiếp nhận trong hoạt động văn học, coi hoạt động giao lưu văn học là trọng tâm nghiên cứu văn học. Nhưng trọng tâm nghiên cứu và lịch trình tư tưởng của hai người không hoàn toàn tương đồng. Nếu như Jauss chú trọng đến lịch sử hiệu quả của văn học và lịch sử tiếp nhận, sau đó nghiên cứu kinh nghiệm thẩm mĩ, coi lịch sử tiếp nhận là lịch sử kinh nghiệm thrm mĩ của nhân loại, thì Iser lại chú trọng nghiên cứu hành động đọc. Công trình tiêu biểu của Jauss là Hướng tới mĩ học tiếp nhận , Lịch sử văn học như là sự khiêu kích đối với lí luận văn học, Kinh nghiệm thẩm mĩ và giải thích học văn học, Tiếp nhận văn học và giao lưu văn học. Ngay từ sớm trong bài Lịch sử văn học như là sự khiêu kích đối với lí luận văn học ông đã xây dựng quan niệm về văn học sử và biên soạn văn học sử của mình. Jauss thống nhất nhân tố thẩm mĩ và nhân tố lịch sử trong lĩnh vực nghiên cứu văn học sử. Ông không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa Mác. Ông cho rằng chủ nghĩa Mác quá chú trọng nhân tố lịch sử xã hội chế ngự văn học cho nên không quan tâm đúng mức tới tính lịch sử và tính độc lập của hình thức thẩm mĩ văn học. Ngược lại chỉ đơn thuần miêu tả diễn biến của hình thức văn học như chủ nghĩa hình thức Nga cũng không thể giúp chúng ta khái quát được lịch sử của tác phẩm văn học. Ông đã dung hòa quan niệm văn học sử của chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa Mác. Đối với Jauss, độc giả trở thành nhân tố quan trọng trong quan hệ giữa văn học và lịch sử, và trong việc không ngừng tiếp nhận của người đọc, tác phẩm không ngừng thực hiện sự kế hợp giữa quá khứ và hiện tại, không ngừng có được sinh mệnh mới. Khái niệm quan trọng nữa của ông là khái niệm “tầm đón đợi”. Đây vốn là khái niệm được dùng trong giải thích học của Husserl và Gamdama, nó mang đến cho sự lí giải một góc nhìn, một cơ sở để tiếp nhận cái mới, phía sau nó là bối cảnh và truyền thống. Nếu tác phẩm vượt quá xa tầm đón đợi, độc giả sẽ khó tiếp nhận, nhưng nếu cự li giữa tầm đón đợi của độc giả và tác phẩm quá nhỏ, tác phẩm cũng thiếu sức hấp dẫn với độc giả. Đây là tư tưởng quan trọng gợi mở nhiều ý tưởng trong nghiên cứu tiếp nhận văn học nghệ thuật. Ông cũng đưa ra lí luận đọc hiểu vĩ mô. Ông hình dung hành động đọc chính là đối thoại theo hình thức hỏi đáp, là quá trình giao lưu, quá trình trùng cấu tầm đón đợi của quá khứ, và quá trình giao lưu, đối thoại mang đến cho tác phẩm sinh mệnh mới. “Lịch sử giải thích về một tác phẩm văn học chính là sự giao lưu kinh nghiệm, hoặc có thể nói là một trò chơi hỏi đáp, một cuộc đối thoại”(2), người đọc sẽ điều chỉnh tầm đón đợi, và quá trình đọc chính là quá trình điều chỉnh quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, văn bản và độc giả. Giai đoạn sau, ông phát triển lí thuyết tiếp nhận của mình theo hướng lí thuyết kinh nghiệm thẩm mĩ, đây cũng là một bước tiến mới kết hợp giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa, hình thành một giai đoạn mới trong nghiên cứu văn học. Jauss đặc biệt chú trọng giải trí thẩm mĩ và giao lưu thẩm mĩ, theo ông, loài người vì muốn giải trí nên tìm đến nghệ thuật, cho nên không nên tách bạch giải trí và nghệ thuật. Coi trọng chức năng giải trí chính là đáp ứng sự phát triển của thực tiễn và thúc đẩy hoạt động tiêu dùng văn học, liên kết văn học và văn hóa đại chúng. Ông cho rằng kinh nghiệm thẩm mĩ tồn tại trong sáng tác và tiếp nhận, cả người sáng tác và người đọc đều có được khoái cảm thẩm mĩ. Như vậy, có thể thấy Jauss nhấn mạnh chức năng chủ thể của người đọc, xem trọng vị trí của độc giả trong hoạt động văn học. Ông đã giải thích sự sinh thành của ý nghĩa tác phẩm văn học từ góc độ mới, lấy tầm đón đợi làm điểm xuất để phân tích kinh nghiệm thẩm mĩ, có những lí giải mới về mĩ cảm và giải trí trong kinh nghiệm thẩm mĩ.

Tác phẩm chủ yếu của Iser là Kết cấu vẫy gọi của văn bản, Độc giả tiềm ẩn, Hoạt động đọc: lí luận hưởng ứng thẩm mĩ. Thời kì sau ông dần dần chuyển sang nhân loại học văn học, với tác phẩm tiêu biểu là Hư cấu và tưởng tượng: biên giới của nhân loại học văn học, Hư cấu hóa: vĩ độ nhân loại học văn học của hư cấu văn học. Quan niệm văn học của ông vô cùng phong phú, thuật ngữ và khái niệm phức tạp, về cơ bản có thể khái quát thành một số phương diện sau: 1. Đề xuất quan niệm mới về tác phẩm văn học: tác phẩm văn học là sự kết hợp giữa tác giả và độc giả. 2. Văn bản tác phẩm có kết cấu vẫy gọi, trong đó tồn tại rất nhiều khoảng trống và điểm không xác định, vẫy gọi người đọc đến bổ sung. Trong văn bản tồn tại cơ sở để tiến hành giao lưu giữa độc giả và văn bản, nó là dấu vết của điều kiện lịch sử xã hội và bối cảnh văn hóa hoặc những thứ tương đồng với tác phẩm trước. Ông cũng quan tâm đến sự sinh thành của văn bản, coi việc đọc chính là một quá trình giao lưu. Đóng góp rất quan trọng của ông là khái niệm “độc giả tiềm ẩn”, độc giả tiềm ẩn tồn tại trong kết cấu văn bản và trong hành động đọc. Trong quá trình đọc, tiêu chuẩn kinh nghiệm vốn có có thể bị phủ định, từ đó kinh nghiệm thẩm mĩ của người đọc trở nên phong phú hơn. Giai đoạn sau, ông hướng tới nhân loại học văn học, chủ yếu nghiên cứu sự hình thành thẩm mĩ của nhân loại. Ông quan tâm đến sự kết hợp giữa hư cấu và tưởng tượng, trò chơi hiện thực, độc giả và tác giả đều lấy thân phận song trùng để tham dự vào trò chơi.

Mĩ học tiếp nhận đóng góp không nhỏ đối với lí luận phê bình văn học thế giới. Nó không chỉ ảnh hưởng ở Đức mà còn mở rộng ra nhiều nước trên thế giới cùng với Harold Bloom, Stanley Fish, G.Poule… thúc đẩy sự chuyển hướng từ văn bản trung tâm sang độc giả trung tâm luận trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu tiêu dùng và tiếp nhận văn hóa. Tất nhiên, Mĩ học tiếp nhận cũng có những hạn chế, trong đó rõ nhất là đã quá nhấn mạnh vai trò và hoạt động tiếp nhận của người đọc, bỏ qua ý nghĩa và giá trị của người sáng tác và quá trình sáng tác, vì thế không ít người coi Mĩ học tiếp nhận là “duy độc giả luận”, cực đoan hóa vai trò của người đọc. Ngoài ra, lí luận văn học sử và biên soạn văn học sử của Jauss cũng không ít hạn chế. Lí thuyết văn học sử của ông thiếu những thao tác cụ thể, và để biên soạn một bộ văn học sử theo lí thuyết của ông cần một nguồn tư liệu khổng lồ. Iser lại thiên sang kết cấu nội tại của văn bản. Khi phân tích hành động đọc đã thiếu cơ sở xã hội và góc nhìn lịch sử, hệ thống thuật ngữ vô cùng phức tạp, không dễ khái quát và hệ thống hóa.

  1. Một số khả năng ứng dụng của Mĩ học tiếp nhận

Bản thân Mĩ học tiếp nhận rất phức tạp, hệ thống khái niệm phong phú, khó thống nhất, nhưng độ mở của lí thuyết này lại rất lớn, gợi mở những hướng ứng dụng nghiên cứu rất có giá trị.

  1. Mĩ học tiếp nhận và nghiên cứu văn học sử cũng như vấn đề biên soạn lịch sử văn học

Ngay từ khi mới giới thiệu vào Việt nam, đặc biệt là từ sau khi bài Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa văn học của Jauss được dịch giới thiệu ở Việt Nam thì vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu quan tâm(3). Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đều chỉ nhìn thấy tính không khả thi trong việc biên soạn lịch sử tiếp nhận văn học. Có thể thấy, lí luận về văn học sử và việc biên soạn các bộ lịch sử văn học ở Việt nam vẫn chưa có nhiều biến đổi, những luận bàn về văn học sử cũng như phương pháp biên soạn của các nhà lí luận phê bình dường như không có mấy ảnh hưởng đến việc biên soạn lịch sử văn học ở Việt nam trong vài chục năm qua. Các bộ sách lịch sử văn học mới biên soạn vẫn dựa trên một cấu trúc cũ: bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội, đặc điểm nội dung tư tưởng nghệ thuật của các nhà văn tiêu biểu…, và cái mới hầu như chỉ là bổ sung thêm tư liệu(4). Từ những bộ văn học sử hiện nay ở Việt nam có thể thấy tiềm ẩn trong đó là quan niệm về lịch sử văn học: Lịch sử văn học là sân chơi của riêng nhà văn, trong khi đó, thực tiễn bản thân văn học là sự tương tác nhiều chiều giữa nhiều nhân tố tác giả, văn bản, độc giả và các nhân tố lịch sử xã hội chính trị khác, sự tương tác giữa các nền văn học khác nhau. Nếu biên soạn lịch sử văn học chỉ quan tâm đến nhà văn và tác phẩm, vô hình chung đã thu hẹp diện mạo của lịch sử văn học, đồng thời coi nhẹ những mạch ngầm chi phối diễn tiến của văn học.

Vì thế, với quan niệm lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận văn bản văn học với các khái niệm như Tầm đón đợi, lịch sử tiếp nhận, lịch sử tư tưởng thẩm mĩ, Jauss dã gợi mở rất nhiều cho nghiên cứu lịch sử văn học cũng như biên soạn văn học sử. Không ít người cho rằng nghiên cứu lịch sử tiếp nhận là không tưởng và không cần thiết, nhất là không phải tác phẩm nào cũng có thể nghiên cứu lịch sử tiếp nhận nó. Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn học Việt nam, đặc biệt là văn học cổ đại thiếu các tác phẩm lớn, thiếu sự ghi chép những lời bình về nó nên không thể viết được lịch sử tiếp nhận.

Sự thực không hoàn toàn như vậy. Đành rằng đối với thực tiễn văn học Việt nam có không ít khó khăn khi vận dụng khía cạnh này của Mĩ học tiếp nhận, nhưng không phải thấy khó khăn là quay mặt đi, hoặc đổ lỗi cho lí thuyết thiếu tính ứng dụng. Rất khó tìm ra một thứ lí thuyết vạn năng, vì vậy, tận dụng được mức nào để giải quyết thực tiễn văn học nước nhà đều là điều đáng quý. Nếu không thay đổi quan niệm về lịch sử văn học, cho rằng lịch sử văn học là diễn đàn của các nhà văn, của tác phẩm, thì nếu như không tìm được tư liệu mới, việc viết lịch sử văn học, đặc biệt là văn học cổ đại bị coi như đã hoàn kết. Trong khi đó, tác phẩm văn học có thể tồn tại cần phải có sự tác động, tiếp nhận, diễn giải của độc giả. Vậy tại sao chúng ta lại có thể quên vai trò của họ trong đời sống văn học, trong lịch sử văn học? Quan tâm tới lịch sử tiếp nhận chúng ta không chỉ thấy sự tồn tại phong phú, đa dạng, sống động của tác phẩm mà còn thấy được những mạch ngầm tương tác giữa văn bản và người đọc, đồng thời còn thấy được quá trình vận động phát triển của tư tưởng, thị hiếu thẩm mĩ của người tiếp nhận, những nhân tố tác động, vận động hữu cơ hình thành thể thống nhất của đời sống văn học.

Đành rằng viết một bộ lịch sử tiếp nhận văn học không phải dễ, đòi hỏi một lượng tư liệu khổng lồ. Tuy nhiên, để bổ khuyết cho sự vắng bóng vai trò của người tiếp nhận trong các bộ lịch sử văn học, chúng ta có thể có những bước đi như sau: trước hết chọn viết lịch sử tiếp nhận về những tác phẩm kinh điển, lịch sử tiếp nhận về tác phẩm của một tác giả, sau đó có thể viết lịch sử tiếp nhận về một giai đoạn văn học. Tính đến thời điểm hiện nay, ứng dụng Mĩ học tiếp nhận để nghiên cứu lịch sử tiếp nhận ở Trung Quốc đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Các học giả Trung Quốc đã dựa trên tư tưởng của Jauss biên soạn được những bộ văn học sử khá thú vị như Nghiên cứu lịch sử tiếp nhận thơ ca cổ điển Trung Quốc, Lịch sử tiếp nhận văn học hiện đại Trung Quốc, ngoài ra còn có các bộ sách nghiên cứu lịch sử tiếp nhận Hồng lâu mộng, Tam Quốc, Thủy Hử, thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch, Đào Uyên Minh…., mang đến diện mạo mới mẻ cho nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học Trung Quốc. Ở Việt nam, hoàn toàn có thể làm được điều đó, với những tác phẩm như Truyện Kiều, thơ nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, hoặc những hiện tượng văn học như Thơ mới, nhân văn giai phẩm, … Từ đó không chỉ cho thấy sinh mệnh của tác phẩm văn học, mà còn cho thấy sự vận động của thị hiếu thẩm mĩ cũng như những cơ chế chi phối ngầm trong đời sống văn học, góp phần làm cho diện mạo của lịch sử văn học trở nên phong phú hơn. Trong nghiên cứu về lịch sử tiếp nhận, ngoài nghiên cứu sự tiếp nhận của những độc giả thông thường, của độc giả chuyên nghiệp, mà còn nghiên cứu một loại độc giả đặc biệt khác, đó là nhà văn. Loại độc giả này vừa tiếp nhận, vừa chịu ảnh hưởng hoặc phê phán để cuối cùng dấu ấn của nó được thể hiện trong một sản phẩm sáng tạo khác. Đây là một hướng nghiên cứu khá thú vị, cho thấy vai trò phong phú đa dạng của độc giả đối với đời sống văn học. Tất nhiên, không thể đem lịch sử tiếp nhận để thay thế lịch sử các phương diện khác của đời sống văn học, nhưng thiếu lịch sử tiếp nhận, cũng làm văn học sử thiếu vắng một phần rất quan trọng.

  1. Mĩ học tiếp nhận và vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài

Đối với việc nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài nói riêng và nền văn học có ảnh hưởng đến văn học nước ta nói chung, vận dụng Mĩ học tiếp nhận cũng mang lại nhiều kết quả thú vị, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu văn học giữa các quốc gia đã trở nên phong phú đa dạng hơn bao giờ hết. Trước kia, khi nghiên cứu văn học nước ngoài, các nhà nghiên cứu thường chủ yếu quan tâm đến chủ thể tác động mà ít quan tâm đến chủ thể tiếp nhận, chẳng hạn khi nghiên cứu quan hệ giữa văn học Trung Quốc, văn học Pháp và văn học Việt nam, các nhà nghiên cứu thường chỉ quan tâm đến việc những nền văn học đó tác động đến văn học Việt nam như thế nào, tạo nên sự ảnh hưởng như thế nào.. mà ít quan tâm đến việc vì sao chúng ta chọn tiếp nhận văn học đó và trong cả một nền văn học phong phú như vậy, vì sao chúng ta lại chọn tác phẩm tác giả này mà không chọn tác phẩm tác giả kia. Mĩ học tiếp nhận đề cao vai trò của chủ thể tiếp nhận trong quá trình tiếp nhận. Khái niệm người đọc, chủ thể tiếp nhận có thể là một cá nhân, có thể là một nhóm người, cũng có thể là một dân tộc.. Trong tiếp nhận, chủ thể không bao giờ hoàn toàn bị động mà luôn có sự chủ động sáng tạo, chủ động sáng tạo trong lựa chọn, trong kiến giải về một tác phẩm, tác giả, nền văn học… Cho nên, khi nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài từ góc độ Mĩ học tiếp nhận, chúng ta sẽ thấy chủ thể tiếp nhận đóng vai trò như một bộ lọc để văn học nước ngoài có thể tồn tại và gây ảnh hưởng ở Việt nam. Các thao tác cơ bản sẽ là nghiên cứu tầm đón đợi của một dân tộc tại một thời điểm lịch sử nhất định, nó bao gồm truyền thống văn hóa, thị hiếu thẩm mĩ chung, trình độ nghệ thuật, nhu cầu xã hội… và thậm chí là cả vấn đề cơ chế, chế độ chính trị xã hội…. Người tiếp nhận sẽ xuất phát từ tầm đón đợi của mình, từ nhu cầu của mình để tìm đến, để lựa chọn những tác phẩm văn học nước ngoài giới thiệu và nghiên cứu ở nước mình. Chẳng hạn, tại sao việc dịch giới thiệu tác phẩm của Lỗ Tấn lại diễn ra rầm rộ vào những năm 6-70 ở Việt nam. Chưa kể đến việc quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Trung Quốc thời điểm đó rất hữu hảo, có một điều chúng ta thấy rất rõ ràng là hoàn cảnh lịch sử Việt nam lúc đó rất cần những tác phẩm mang tư tưởng cách mạng, muốn xốc lại tinh thần dân tộc như tác phẩm của Lỗ Tấn. Hay nói cách khác, sở dĩ tác phẩm của Lỗ Tấn có thể được đón nhận và gây ảnh hưởng ở Việt nam trước hết là do chủ thể tiếp nhận tại thời điểm đó có nhu cầu như vậy(5). Cũng như thế, cho dù hiện nay các nhà phê bình văn học Việt nam vẫn chưa thực sự chú ý đến hiện tượng văn học 8x, văn học linglei và cả những tiểu thuyết tình cảm của Trung Quốc đang tràn ngập thị trường tiểu thuyết Việt nam, nhưng sự tồn tại của nó là không thể phủ nhận. Không những thế, nó đã gây lên phản ứng dây chuyền thúc đẩy sự phát triển của dòng văn học 8x ở Việt nam. Ở đây, chúng ta cũng nên xuất phát từ góc độ người tiếp nhận, trong đó nhà văn 8x Việt nam là một loại độc giả đặc biệt. Lúc đó chúng ta sẽ phát hiện ra rất nhiều điều thú vị liên quan đến tầm đón đợi, thị hiếu thẩm mĩ, nhau cầu, sự lựa chọn của độc giả trẻ tuổi Việt nam, đồng thời lí giải được rất nhiều vấn đề liên quan đến bản thân thực tiễn văn học nước nhà….

Khi đứng ở góc độ của Mĩ học tiếp nhận nghiên cứu văn học nước ngoài, chúng ta không chỉ có thể nghiên cứu lịch sử tiếp nhận một tác phẩm văn học nước ngoài kinh điển để từ đó thấy sức sống của nó, diện mạo của nó ở một nền văn hóa khác, mà còn thấy được diễn biến, sự vận động trong thị hiếu thẩm mĩ cũng như các vấn đề tiềm ẩn sâu trong cơ chế xã hội, văn hóa, đặc biệt hơn nữa là chúng ta nghiên cứu sự tiếp nhận văn học nước ngoài của các nhà văn Việt nam, để xem họ đã chủ động lựa chọn và chủ động học tập, đi theo hoặc phát triển những thành tựu tư tưởng, nghệ thuật của văn học nước ngoài như thế nào. Trước kia, nghiên cứu văn học Việt nam trong tương quan với văn học nước ngoài, dường như tiềm ẩn sâu trong tâm lí chúng ta là một nỗi tự ti về tầm vóc của văn học dân tộc, vì thế chủ yếu chỉ quan tâm theo chiều “văn học nước ngoài ảnh hưởng đến văn học nước ta như thế nào”, mà ít quan tâm đến việc “chúng ta đã chủ động lựa chọn, tiếp thu văn học nước ngoài như thế nào, và vì sao”. Bất kì một chủ thể tiếp nhận nào, cho dù ở vị trí nào, ở tầm vóc nào, đều có quyền chủ động lựa chọn và tiếp nhận của mình. Có thể nói, nghiên cứu văn học Việt nam sẽ có một chân trời rộng mở hơn nếu người nghiên cứu thực sự am tường về một nền văn học khác, đặc biệt là nền văn học quan hệ trực tiếp với văn học nước nhà (Tất nhiên làm được điều này không phải là dễ, bởi vì nhà nghiên cứu thực sự am tường từ hai nền văn học trở lên không nhiều).

 

 

  1. Mĩ học tiếp nhận với việc nghiên cứu liên ngành

Hiện nay, nghiên cứu văn học ở Việt nam đã có những bước chuyển biến tích cực. Những năm từ 1945 đến những năm 80 của thế kỉ 20, ngự trị trong nghiên cứu văn học Việt nam vẫn là khuynh hướng văn học phục vụ chính trị, có không ít những biểu hiện của xã hội học dung tục, nặng về nghiên cứu quan điểm, lập trường, giai cấp…Từ khoảng giữa những năm 80 trở đi, nghiên cứu văn học chuyển dần sang xu hướng thiên về nghiên cứu hình thức, với sự xuất hiện của thi pháp học, chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, tự sự học…, và sang những năm đầu của thế kỉ 21, xu hướng đa nguyên hóa trong nghiên cứu văn học ngày càng trở nên rõ rệt, đặc biệt là chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học. Đây cũng là tiến trình vận động của nghiên cứu văn học thế giới, chỉ có điều, do hoàn cảnh đặc thù, chúng ta đi sau một chút. Trong tiến trình vận động đó, Mĩ học tiếp nhận có một vai trò rất quan trọng, nó như một cầu nối để tạo nên sự chuyển hướng nghiên cứu văn hóa trong văn học. Ứng dụng của Mĩ học tiếp nhận không chỉ dừng lại ở nghiên cứu văn học, mà có thể mở rộng ra nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác, nghiên cứu các hoạt động khác như hoạt động dịch thuật, hoạt động dạy học văn trong nhà trường…

Ở Việt nam, hướng ứng dụng Mĩ học tiếp nhận vào nghiên cứu hoạt động dạy học văn trong nhà trường tương đối rõ rệt. Thể hiện chủ yếu ở các phương diện sau: Mĩ học tiếp nhận đề cao vai trò năng động chủ động sáng tạo của người đọc, và cho rằng người đọc thông qua hoạt động tiếp nhận của mình có thể làm phong phú ý nghĩa cho tác phẩm văn học, ý nghĩa của tác phẩm không cố định, mà luôn mở ra cùng với hành động đọc. Học sinh cũng là một loại độc giả, vì thế, dạy học văn phải kích thích học sinh chủ động phát hiện ra những tầng ẩn ý nằm sâu trong văn bản. Tiếp nữa, do Mĩ học tiếp nhận coi tầm đón đợi như một cơ sở để tiếp nhận, vì thế, thông qua hành động dạy học văn, cần phải bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ cho học sinh, bồi dưỡng năng lực tiếp nhận, trình độ thẩm mĩ, năng lực lí giải, tưởng tượng…. Đồng thời cũng phải chú trọng đến sự dung hợp tầm đón đợi, chỉ có như vậy mới có sự tiếp nhận và lí giải. Tầm đón đợi biến động có liên quan đến thời đại, nếu không chú ý đến điều này thì sẽ bóp chết sức sáng tạo của học sinh(6).

Hiện nay, ở Việt nam, việc ứng dụng Mĩ học tiếp nhận để nghiên cứu vấn đề dịch thuật chưa nhiều. Từ góc độ Mĩ học tiếp nhận, sẽ thấy người dịch có thân phận song trùng, vừa là độc giả, vừa là tác giả. Với tư cách là người đọc, họ có quyền lựa chọn, có quyền lí giải trên cơ sở tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mĩ của riêng mình. Và sự lựa chọn, lí giải của họ lại chịu sự chi phối rất lớn của bối cảnh văn hóa lịch sử, tầm đón đợi, thị hiếu thẩm mĩ của nền văn hóa mà họ định giới thiệu tác phẩm dịch của mình. Vì thế, việc dịch của họ không chỉ bị chi phối bởi kinh nghiệm, năng lực của bản thân, mà còn bị chi phối bởi người tiếp nhận văn bản dịch. Xuất phát từ góc độ này, sẽ có thể lí giải được tại sao dịch giả chọn tác phẩm này mà không chọn tác phẩm kia, vì sao cắt chỗ này, để chỗ khác, vì sao lại chọn cách dịch như thế này mà không chọn cách dịch như thế kia. Tất cả nằm trong một mối quan hệ nhiều chiều, có rất nhiều những mạch ngầm chi phối hoạt động dịch(7).

Có thể sử dụng Mĩ học tiếp nhận để nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác. Cơ chế tiếp nhận văn học và cơ chế tiếp nhận các loại hình nghệ thuật khác vừa có điểm chung, vừa có nét riêng. Khi ứng dụng Mĩ học tiếp nhận để nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác thì các khái niệm được mở rộng, khái niệm “người đọc” sẽ mở rộng thành “người tiếp nhận”, khái niệm “văn bản” sẽ được hiểu theo nghĩa rộng hơn văn bản ngôn từ, cũng như thế, khái niệm tầm đón đợi, khoảng trống, điểm chưa xác định, độc giả tiềm ẩn… của mĩ học tiếp nhận cũng được hiểu theo nghĩa rộng. Từ đó, chúng ta có thể mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, mở ra một chân trời mới cho nghiên cứu văn học nghệ thuật nói chung. Chẳng hạn, vũ đạo là một môn nghệ thuật lấy thân thể và động tác làm chất liệu, cũng là một loại hình nghệ thuật ý tượng, cái nó biểu hiện không phải bản thân người biểu diễn. Vì thế, sự tồn tại của vũ đạo cũng chủ yếu phải dựa trên cơ sở người xem. Muốn tái hiện được chỉnh thể hình tượng vũ đạo vẫn cần tư duy, tưởng tượng, năng lực tái tạo của người xem. Khi biểu diễn, người nghệ sĩ kích phát tiềm năng của cơ thể, tổng hợp những động tác, kĩ năng mà người bình thường khó làm được. Nhưng vũ đạo không phải là xiếc, không chỉ nhằm phát hiện những tiềm năng phi phàm của con người, mà là phát hiện tiềm năng con người hoặc thực hiện những động tác khó để biểu hiện sự cảm thụ của con người về thế giới. Hiệu quả của vũ đạo vẫn phụ thuộc vào người xem, vì thế, sáng tác, biểu diễn luôn chú trọng đến tầm đón đợi của người xem… Đối với các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, điêu khác, điện ảnh… cũng vậy, dùng Mĩ học tiếp nhận chúng ta có thể soi sáng rất nhiều vấn đề của từng môn nghệ thuật, đặc biệt là quan hệ giao lưu tương tác giữa người sáng tạo, “văn bản” và người tiếp nhận từ đó chỉ ra những mạch ngầm chi phối sự sáng tạo, sự tồn tại và ảnh hưởng của chúng.

Trong thời đại văn hóa đại chúng bùng nổ, sự chuyển dịch vị trí giữa cái thông tục và cái tinh anh, giữa văn hóa đọc và văn hóa nghe nhìn diễn ra mạnh mẽ, sân chơi của thơ ca bị thu hẹp…là những vấn đề chúng ta cần quan tâm. Và để lí giải điều được hiện tượng đó, chúng ta không thể bỏ qua một nhân tố, đó là nhân tố người tiếp nhận. Cơ chế kinh tế xã hội, phương tiện truyền thông hiện đại, xu thế quốc tế hóa… tác động sâu sắc đến người người tiếp nhận, khiến tầm đón đợi, thị hiếu thẩm mĩ, nhu cầu của họ thay đổi. Chỉ khi nghiên cứu về chính độc giả, nắm bắt được thị hiếu của họ, chúng ta mới có thể lí giải được những hiện tượng mới xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu độc giả và cũng từ đó có thể định hướng được độc giả. Trong sự phát triển của Mĩ học tiếp nhận, hướng tới khảo sát phản ứng của người đọc thông qua các phương pháp xã hội học được thịnh hành ở Mĩ

  1. Kết luận

Đối với một thứ lí thuyết ngoại lai, hơn nữa lại là một thứ lí thuyết đã xuất hiện cách đây hàng nửa thế kỉ, bản thân những người sáng lập lí thuyết cũng tự điều chỉnh lí thuyết của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn, cho nên, việc nghiên cứu và vận dụng nó đòi hỏi chủ thể người nghiên cứu phải chủ động sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn văn học nước mình để tiến hành chọn lọc, phát triển, đặc biệt là phải thao tác hóa được lí thuyết. Tiềm năng ứng dụng của Mĩ học tiếp nhận rất lớn, đặc biệt là khi kết hợp với những lí thuyết phê bình văn học khác.

Đỗ Văn Hiểu

Busan, Hàn Quốc, 30 tháng 3 năm 2014

 

Chú thích:

  1. Xem thêm Đỗ Văn Hiểu, Mĩ học tiếp nhận ở Việt nam, tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ, X2 – 2013, 47-57)
  2. Jauss, “Mĩ học tiếp nhận và giao lưu văn học”, trong Lí luận Mĩ học tiếp nhận, Trương Định Sâm biên soạn, Nxb Văn nghệ Tứ Xuyên, 1989, tr196
  3. Đầu thế kỉ 21, các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hoạt động nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học từ góc độ mới. Ngày 2-8-2001  Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia tổ chức hội thảo về phân kì văn học sử Việt Nam. Tháng 4 năm 2002, Viện Văn học tổ chức tổng kết Hội thảo về phương pháp biên soạn lịch sử văn học. ngày 17-4 – 2003 Viện văn học và ban biên soạn lịch sử văn học thảo luận về phương pháp biên soạn lịch sử văn học.
  4. Xem thêm Tiếp cận một phương diện của lịch sử văn học Việt Nam từ những tiền đề thực tiễn và lí thuyết mới. Kỉ yếu Hội thảo Các nhà khoa học trẻ của Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
  5. Xem thêm: Đỗ Văn Hiểu, Diễn ngôn tinh thần trong tác phẩm của Lỗ Tấn và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, Kỉ yếu hội thảo quốc tế về nghiên cứu Lỗ Tấn, lần thứ 4, tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc, 6-2013, tr279-288.
  6. Xem thêm Mĩ học tiếp nhận và việc dạy học văn, Hồ Ngọc Mân, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2004: 2 11-16 , Đại học Cần thơ)
  7. Xem thêm: Đỗ Văn Hiểu, Mĩ học tiếp nhận với dịch thuật và giảng dạy văn học dịch. Kỉ yếu hội thảo khoa học Cán bộ trẻ trường Đại học Sư phạm Hà Nội lần thứ 5. Nxb ĐHSP Hà Nội năm 2012

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Chu Lập Nguyên, 1989,  Mĩ học tiếp nhận, Nxb Nhân dân Thượng Hải, Thượng Hải.

2. Đậu Khả Dương, 2012, 30 năm Trung Quốc hóa Mĩ học tiếp nhận, Tranh luận văn nghệ, số 2.

3. Iser – Wolfwang, (Kim Nguyên Phủ, Chu Ninh dịch), 1991 Hành động đọc – Lí luận phản ứng thẩm mĩ. NXb KHXH Trung Quốc, Bắc Kinh

4. Jauss  Hans Robert, 2006, Kinh nghiệm thẩm mĩ và thông diễn học văn học. Tập đoàn xuất bản thế kỉ Thượng Hải.

5. Jauss  Hans Robert (Trần Kính Nghị dịch), 1990, Hướng tới Mĩ học tiếp nhận, Nxb Giáo dục Giang Tô, Giang Tô.

6. Kim Nguyên Phố, 1998, Văn luận phản ứng tiếp nhận. Nxb Giáo dục Sơn Đông,, Sơn Đông.

7. Lưu Tiểu Phong (tuyển), 1989, Tuyển tập dịch Mĩ học tiếp nhận, Tam liên thư quán, Thượng Hải.

8. Mã Dĩ Hâm, 1995, Mĩ học tiếp nhận tân luận, Nxb Học lâm, Thượng Hải.

9. Trương Định Sâm, 1989, Lí luận Mĩ học tiếp nhận. Nxb Văn nghệ Tứ Xuyên, Tứ Xuyên

10. Trương Tứ Tề, 1988, Dẫn luận Mĩ học tiếp nhận Trung Quốc, Nxb Ba Thục, Tứ Xuyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                          

Posted in Tổng hợp | Tagged , , , , , | Để lại bình luận